Vùng biển thắm

Vợ Phái gần đây hay phàn nàn về chồng mình. "Chàng Ngốc", ngay từ ngày còn yêu nhau, chị đã thường gọi anh như thế. Nhưng thời gian ấy, khi màu sắc hồng hào lãng mạng của quan hệ yêu đương chưa ngả sang màu nước dưa của hiện thực vợ chồng, thì đó là cách gọi âu yếm, thậm chí có phần tự hào. Còn bây giờ... chị gọi anh một cách nghiêm nghị hơn: "Đồ dở hơi!"

 

                                                            

- Cái gì? - Lần đầu nghe, Phái hỏi lại, hiền lành như người nghe chưa thủng.

- Dở hơi!

Một cái gì gần giống như là cười. Mủm mỉm, bâng quơ. Thoạt nhìn vô hại. Nhưng nếu cứ chăm chú vào nó, thì nó lại có hại. Trước hết là đáng ngờ. Mắt nhìn đăm đăm vào một điểm vô hình, Phái rất hay mủm mỉm như vậy.

Hiếm có người vợ nào lại chiều chồng như vợ Phái. Chị là con gái độc nhất của một gia đình khá giả, có tiệm buôn ở phố Hàng Đào. Chị đã một thời là vận động viên bơi lội, là hạt nhân văn nghệ ở trường cấp ba. Một vốn tri thức phải chăng. Một nhan sắc phải chăng. Lấy Phái, ra ăn riêng, nhưng cô con gái vẫn chung vốn với bà mẹ ở tiệm hàng. Bà mẹ già yếu đã hơi lẫn, nên vợ Phái gần như toàn quyền cai quản việc buôn bán.

Có nghĩa là về mặt cơm áo, Phái không phải lo lắng, phải bo bíu đến bạc mặt như số đông bạn bè cùng tuổi.

Công việc của Phái nói chung dễ chịu, và nhàn, nếu muốn nhàn. Một cơ quan nghiên cứu mà sản phẩm thường là trừu tượng không đòi hỏi phải tám giờ vàng ngọc, không phải ngày nào cũng cần đến ngồi ở bàn giấy. Đến nỗi nếu như thường xuyên anh có mặt đúng giờ ở cơ quan, thì đồng sự sẽ nhìn anh như một thằng rách việc, hoặc là đang có cái mưu gì.

Lẽ ra, có thể làm việc ở nhà, ít nhất là đọc. Nhưng kiểu nhà như vợ chồng Phái đang cư ngụ rõ ràng không phải là cái nhà dùng để nghiên cứu. Tất cả sinh khí của căn nhà đều dồn lên phía mặt đường, nơi có tủ kính hàng hoá sặc sỡ, choáng gần hết lối ra vào, phần còn lại, nó giống như một cái hang. Bề rộng ngót ngét hai mét rưỡi, và dài, sâu thăm thẳm. Và tối âm âm.

- Thật đúng hệt một cái quan tài!

Có lần Phái nằm duỗi dài, ngửa mặt lên trần nhà, lẩm bẩm như thế. Vợ Phái bực mình, mắng:

- Ơ hay, ông dở hơi, chỉ được cái gở miệng. Đầu tháng mà ăn nói cứ như ma ám, không cho ai làm ăn gì nữa hở giời?

Thế nên ngày nào Phái cũng đi. Vợ Phái rồi cũng biết là Phái không đến nơi làm việc. Song theo chỗ chị hiểu, công việc của chồng đòi hỏi sự nghiền ngẫm triền miên. Đã là nghĩ ngợi thì không nhất thiết phải ngồi một chỗ, phải có ghế dựa, có bàn.

Chị vẫn mua quà sáng cho anh đều đặn. Và cũng rất đều đặn nhét tiền vào túi áo đã là ủi sẵn cho anh từ tối hôm trước. Để chiều về, khi giặt áo cho anh, nếu thấy vẫn còn tiền trong túi, thì chị giận:

- Anh chẳng chịu ăn uống bồi bổ gì cả, người cứ như con vạc ấy.

Kể cũng khó cho Phái. Một người không hề bị thiếu chất, thì chẳng mấy khi thấy đói, thấy khát. Nửa cốc bia đã đỏ mặt, đã chuếnh choáng, thuốc không hút bao giờ thì làm sao tiêu hết được chỗ tiền sáng sáng vợ nhét vào túi, bắt phải tiêu.

Phái buộc phải nghĩ ra cách tiêu tiền hàng ngày.

Anh thường rình rình chộp lấy một ông bạn nào đó, rủ vào căng-tin, hay tạt vào một hàng phở. Thích nhất là vớ được ông nào biết uống rượu, bia. Thường những ông hay bị đói, lại là những ông uống được rượu, bia. Thế là một công đôi việc, vừa cứu được bạn, vừa cứu được mình, lại vui vẻ. Vui cho bạn lúc ấy, vui cả cho mình, khi về nhà phải thay áo.

Nhưng cái cách ấy không được bền. Cán bộ cùng cơ quan với nhau, trí thức với nhau, túng thì túng, nhưng mà nhiều tự trọng. Anh bao tôi một lần, thì lần sau, tôi cũng phải kiếm cớ để bao lại anh, dù một nửa. Lặp lại đôi ba lần cười vui với anh đấy, tri kỷ với anh đến mấy, cũng vẫn cứ chạnh lòng. Có cái gì không ổn trong tâm lý người được mời tiêu dùng, người ăn theo. Phái cũng nhận ra điều đó. Anh vốn đã từng là người nhạy cảm.

Phải tìm cách khác, Phái chơi xổ sổ với Nhà nước.

Một hình thức hợp lý và lành mạnh. Và đúng theo mục đích "xổ số kiến thiết". Phái chưa trúng số bao giờ. Thế nhưng, phàm cái người ít trúng vặt, lại không cay cú, không hồi hộp quá, thì ắt trúng to.

Phái trúng giải nhất. Mua vé vu vơ, chẳng mưu tính gì, lững thững ra bảng thông báo đầu phố, hờ hững rút vé ra, đọ. Thế là trúng. Song Phái không nhảy lên, cũng không hề hé cho ai biết đến cái vận may đỏ mọng của mình.

Với người ta, đúng là một gia sản. Nó sẽ làm thay đổi cục diện kinh tế, thậm chí, có khả năng cải tạo những mối quan hệ phức tạp. Phái biết điều đó.

Đã lâu ở cơ quan anh, có cặp vợ chồng chẳng biết vì sao sinh lục đục, hầm hầm làm đơn xin ly dị. Giấy tờ xong xuôi, hai bên đã ký kết, ấn định ngày trình toà, thì đánh nhoằng một cái, anh chồng trúng cái xổ số giải nhì. Ngày đó giải chưa to. Chỉ là cái xe đạp thống nhất, với vài mét vải ngoại. Thế nhưng tác dụng của giải lại vượt quá khuôn khổ mà ngày cả những người nghĩ ra cái trò xổ số ở thế gian nay cũng không dám lường. Giải đã vươn tới một giá trị nhân đạo, vừa sâu sắc, vừa cụ thể: cặp vợ chồng rút đơn ly dị. Đứa con vẫn còn nguyên cả bố, lẫn mẹ.

Thế nên, cái giải nhất này sẽ rất cần cho ai đó. Phái nghiền ngẫm mất một ngày, hai đêm. Anh đi đến một quyết định phải nói là cao thượng, đến bản thân anh cũng thấy cảm động. Trong số bạn bè thân thiết, anh chọn lọc ra lấy một người có hoàn cảnh neo túng nhất. Cái khó là chọn lấy một người, chỉ được phép lấy một người.

Phái có cách chọn riêng của Phái.

Một đời người, có rất nhiều cơ hội để khai lý lịch: đi học, vào Đội, vào Đoàn, chuyển cơ quan, lấy vợ v.v. ... Đấy là chưa kể tới những dịp phải khai cho con để nó vào đời - như bố mình đã từng khai hộ mình ngày trước, để mình vào đời.

Giá có thức dậy nửa đêm, mắt nhắm mắt mở, Phái vẫn có thể ngay lập tức, đọc thuộc lòng tất cả các khoản mục, các chi tiết lý lịch mình. Chẳng hạn: ông nội sinh năm 1892, ba vợ. Cũng có dính tý "khố xanh", nhưng chỉ tập "ắc ê", ít ngày, lại trước cách mạng, rồi sau có làm cơ sở nội thành cho ta ...

Duy có cái mục (thường là sau cùng) về quan hệ xã hội thì Phái hơi ấp úng. Sống đến già nửa đời, có hỏi đến ai là bạn, lại là bạn thân, vẫn phải lẩm nhẩm nghĩ, khó mà khai ngay ra được.

Hoá ra đã lâu quá, Phái chưa có dịp làm lý lịch. Vậy lúc này cứ làm như mình được dịp khai đi, thế nào cũng tìm ra được một người.

Nhưng quái lạ, bạn bè gần gặt nhất bây giờ hiện lên cứ chập chờn như ti vi bị nhiễu nặng. Người có tiếng thì mất hình. Thằng được hình thì méo tiếng. Lại có thằng chỉ thấy hiện lên mỗi cái lưng. Trường hợp này nhiều, lưng lên rất nhiều.

Bạn bè mỗi tuổi mỗi khác. Chỉ có thưa vắng đi, chứ không thể đông vui lên. Đến lúc mà người ta gặp gỡ nhau theo lịch công tác, theo những thúc bách khe khắt và buồn bã của kế sách sinh nhai, thì nhu cầu tình cảm bỗng trở nên vu vơ, phù phiếm quá. Ai chứ đối với Phái rất rỗi thời giờ này. Phái biết lắm. Phóng xe hăm hăm hở hở đén nhà bạn, bừng bừng bao nhiêu là tâm trạng, vậy mà tới nơi, lại gặp ngay phải bộ mặt đăm đăm, một câu hỏi nguội ngắt: "Có việc gì không ?" thì quá bằng dội gáo nước đá vào đầu nhau!

Thế thôi, bạn bè vẫn có thể nhớ đến nhau, vẫn nhận ra nhau được, nhưng gặp nhau là việc không phải thật cần. Còn đầu những nỗi niềm bâng quơ, một chút phải lòng bóng gió cũng đủ làm cái cớ; để thâu đêm hai thằng con trai gác chân lên nhau mà rạo rực, mà bồi hồi? ...Rồi những lần sống chết có nhau ...Sao? Cái gì nhỉ? "Sống chết có nhau?" Lòng Phái chợt thoáng lên một tia chớp. Giây lát, Phái gặp lại cái cảm giác vừa quặn thắt, vừa nhẹ bỗng khi có một trái bom nổ rất gần mình ...

Nghị! Phải rồi, Trần Hữu Nghị - thằng bạn ở chung một căn hầm với Phái, đã từng xốc Phái đầy máu me lên đôi vai gầy guộc của mình, loạng choạng vượt năm cây số về tới trạm quân y trung đoàn, vừa sục giầy loạt soạt trong cát, vừa thút thít khóc như một đứa trẻ.

Vợ Phái có lần tò mò ngắm nghía cái thẻ thương binh của Phái, âu yếm nói với chồng:

- Nhìn anh, chẳng ai nghĩ là anh đã có thời làm lính, lại là lính đại bác cơ đấy!

Không hiểu sao câu nói vui của vợ Phái lại chen ngang trong óc anh đúng khoảnh khắc này - khoảnh khắc vụt nhớ về một thằng bạn, theo đúng nghĩa sống chết có nhau, ở một thời chưa phải đã là xa.

Sau lần bị dập thương ấy, Phái chuyển về hậu phương, và ra quân, trở về trường đại học. Rồi ra công tác. Cứ thế, diễn ra tuần tự một loạt những công việc lớn, nhỏ của một đời người. Mọi sự đi đến ổn định, từ từ, suôn sẻ.

Mãi sau này, trong một hội nghị khoa học chuyên ngành, rất bất ngờ, Phái gặp Nhị - một Trần Hữu Nghị với tư cách phóng viên báo chí.

Phái mững rỡ quá đỗi và ngạc nhiên. Mừng rỡ vì cuộc hội ngộ ngoài tưởng tượng. Ngạc nhiên vì Nghị không thay đổi mấy: vẫn đôi vai gày guộc, cặp mắt trũng sâu và cái vẻ rụt rè, có phần tiều tuỵ không đáng có ở một nhà báo (Những nhà báo Phái đã gặp, họ chững chạc, tự tin, và giống như một thuỷ thủ lão luyện, đối với họ, trên đời chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả).

Họ gặp nhau vội vàng ở giờ giải lao, ngoài hành lang. Phái định bụng tan hội nghị, sẽ rủ Nghị đi chơi với mình. Nhưng rất lạ, Nghị đã lẩn mất từ lúc nào. Sau này Phái mới biết: Nghị biến mất, cùng với khá nhiều đại biểu, khi đã nhận xong tiền ăn trưa.

Phái có bị hẫng. Nhưng không giận bạn. Bởi cái người mang ơn không thể giận cái người đã cứu sống mình, khi anh ta lặng lẽ trốn khỏi một cuộc thù tiếp. Vả lại, Phái có hẹn hò gì đâu. Anh chỉ kịp hỏi địa chỉ của Nghị để đến thăm thôi.

Địa chỉ Nghị, đến hôm nay, Phái còn nhớ mang máng. Chắc tìm được thôi. Điều này mới quan trọng: Nghị đã có vợ và hình như mới "vỡ kế hoạch" ra thêm một đứa con thứ ba. Đời sống vì thế chắc chắn là gieo neo đấy.

... Phái cẩn thận xếp mấy cái vé xổ số (trong đó có vé trúng giải) vào túi. Nhẩm lại số nhà của Nghị. Anh phác nhanh một phương án hành động. Sẽ thế này: anh đến nhà Nghị, tuyên bố rằng, nhân dịp vợ chồng cậu sinh thêm được đứa con trai, cứ cho là vỡ kế hoạch đi, thì vẫn cứ phải chúc mừng. Rượu, tớ không biết uống,vậy tớ sẽ tặng ông công dân mới toanh này vài "xê ry" xổ số.

Nghị chắc sẽ ngạc nhiên và mỉm cười. Phái sẽ dụ thêm: cứ coi như ta thử xem vận may của thằng bé tới đâu. Cầm lấy và đi đọ đi, hình như họ đã quay rồi đấy.

Chà, tuyệt. Phái đạp nổ xe máy, lâng lâng như đã uống hẳn một cốc bia vàng óng, sủi bọt, ngắm giá cái men say chẳng dễ có của lòng hỷ xả.

Ấy thế mà ngay sau đó, kế hoạch nhân ái của Phái đã bị tiêu huỷ. Vì một nguyên nhân, một kẽ hở rất vớ vẩn, mà mãi đến bây giờ Phái vẫn còn ngơ ngác.

Một buổi chiều, Phái về nhà, vợ anh lập tức xông ra, lôi phắt anh vào sau cánh tủ, ôm chặt lấy đầu anh, hét toáng lên:

- Trúng rồi, mình ơi, trúng rồi, giải nhất nhé!

Anh cố gắng gỡ tóc ra khỏi cái nhẫn mặt ngọc ở ngón tay vợ, chết điếng vì đau, và bải hoải cả người. Chị vợ vẫn chưa thôi hổn hển:

- Gớm, cũng chẳng ai như mình, mua vé rồi còn nhờ người đi dò hộ. Anh Nghị vừa mới ghé vào đây, đưa vé ra, em mới biết. Thật, nhân bảo như thần bảo, biết ngay là thế nào năm nay vợ chồng mình cũng có lộc!... Mà anh làm sao thế, không tin hả? Ối giời ơi...

Phái dựa hẳn đầu vào cánh cửa tủ, mặt dại ra như phải gió.

Không, Phái tin thì tin lâu rồi. Anh trúng số. Nhưng hiểu thì đến giờ anh vẫn chưa hiểu.

Đêm ấy, vợ gặng. Phái buồn bực nói trắng ra cái dự định không thành của mình. Vợ Phái lặng thinh, chẳng nói năng gì, chỉ nằm hơi nhích ra xa chồng một chút, và len lén nhìn trộm anh vài lần.

"Dở hơi"! Đấy cái tên chính mà vợ Phái đặt cho chồng. Còn bạn bè lại đặt cho anh cái tên khác, ít sức khái quát hơn, nhưng cũng đúng: "Phái mải chơi".

Ở vỉa hè, cạnh cổng cơ quan Phái, một dạo có ông già đến ngồi bán rắn. Bàn tay đen đúa, sần sùi như tay quỷ của ông lão năm hờ hững cái đuôi của bộ ngũ xà. Năm con rắn, năm màu loang lổ, há miệng, thè lưỡi phì phì, loằng ngoằng trên mặt đất. Người hỏi, người xem thì nhiều, nhưng hình như chẳng có người mua. Chủ yếu là trẻ con. Chúng xúm thành một vòng rộng, thỉnh thoảng lại à lên, dạt ra khi có một chú rắn ngóc đầu trườn về phía ấy. Phái cũng ngồi từ đầu với đám khác không cần biết đến thời gian là gì này. Mắt anh cũng long lanh lên, người anh cũng nhấp nhổm, xê dịch theo cái vòng tròn trẻ con xung quanh đám rắn.

Rồi đến trẻ con cũng phát chán cái trò xem rắn rết. Nắng đã gay gắt. Cái vòng người thưa mỏng dần. Rồi vãn hẳn. Quá Ngọ, dưới bóng cây tròn nhỏ của cây cơm nguội, chỉ còn lại có Phái và ông chủ rắn. Những con rắn, chắc cũng thấm mệt, lờ đờ như say. Ông lão cũng gà gật. Duy có Phái, đầu gối quá tai, vẫn ngồi chăm chú, xem.

Bạn bè Phái đến chơi nhà, có lần vui chuyện tả lại cảnh xem rắn này cho vợ anh nghe. Chị vợ cười khanh khách:

- Ôi dào, đã ăn thua gì. Lớn đầu rồi mà mải chơi lắm các anh ạ. Có lần...

Và thế là chị công bố thêm những tư liệu về ông chồng quý báu của mình, với một thái độ hoàn toàn vô tư, hoàn toàn vô tư, hệt như một bà mẹ sung sướng kể về những chuyện nghịch ngợm quá đáng của đứa con cưng.

... Một lần, thật hãn hữu, Phái tự dưng về nhà vào buổi trưa. Vợ Phái mừng lắm, chị bảo anh: - Em đã mua ít giò sống. Bây giờ anh chịu khó chạy ra chợ, mua lấy mớ cải cúc về, em nấu canh, anh ăn cho mát ruột.

Phái lẳng lặng đi. Nửa tiếng sau, anh quay về, ngẩn ngơ:

- Rau gì nhỉ?

- Khổ tôi chưa? Canh sôi sùng sục từ tám đời... Cải cúc! Đã dặn anh đứt lưỡi ra là cải cúc!

Phái đứng gãi tai, ngần ngừ. Chị vợ sốt ruột: -Thôi, anh ngồi trông hàng, để em chạy ù ra mua cho.

Anh cán bộ nghiên cứu giãy nảy:

- Không trông hàng! Để tôi mua!

Rồi anh dắt xe máy ra (nhà chỉ cách chợ chưa đầy trăm mét). Vừa đi, anh vừa bẩm bẩm: "Cải cúc, là cải cúc, là...".

Vợ Phái đã ngờ ngợ, nhưng lúc ấy có khách đến mặc cả mua chiếc đồng hồ điện tử, nên chị không nói gì.

Và chị đã phải lấy làm tiếc vì đã không nói gì.

Mãi đến sẩm tối, Phái mới lững thững về. Trên ghi đông xe máy treo toòng teng mới, cải xoong đã héo rũ rượi.

- Thế có chán không cơ chứ! - Chị kết luận.

Vài ông bạn nghèo túng oà lên cười. Có điều tiếng cười đã không còn hồn nhiên nữa. Bởi họ cười trong một thoáng liên hệ chẳng vui vẻ gì với gia cảnh trái ngược của bản thân mình - những ông vốn rất giỏi phân biệt cải cúc với cải xoong...

Khuôn mặt mịn màng của vợ Phái hồng lên như bắt lửa, đôi mắt nhìn chồng, nồng nàn và ý tứ. Một người vợ của những gì hiện hữu, gồm có ông chồng làm khoa học, có đứa con giai bụ bẫm như hình vẽ trên hộp sữa nước ngoài, và tiệm hàng bán buôn không thua lỗ.

Trong khi đó, cái anh chồng được dư luận ngầm coi là "chuột xa chĩnh gạo" kia, chỉ ngồi mủm mỉm. Mà mắt lại nhìn đi đâu đâu.

Thực ra, chỉ mình Phái biết rằng mình chẳng dở hơi.

Và thêm một người nữa biết rõ ở cái buổi chiều đi mua cải cúc ấy, Phái không phải mải chơi như thường ngày.

Số là anh đã gặp lại Nghị từ sau lần Nghị đưa trả lại vợ chồng anh cái giải nhất xổ số.

Nghị cũng ở chợ xa, cũng mua rau cải, nhưng là loại cải trắng của mậu dịch, một bó to, buộc chặt chẽ ở sau xe đạp, Nghị phăng phăng kéo Phái vào một quán nước vắng khách. Anh gọi hai chén rượu, hai gói lạc rang, và hai điếu Sông Cầu. Nghị có vẻ như đã quên hẳn cái chuyện xổ số kia đi rồi. Nỗi hăng say ngùn ngụt của Nghị đang dành cho một đề tài khác:

- Ông ạ, trong khi ở bên Na Uy có một bà Kristansand nào đó hoàn thành bản luận án phó tiến sĩ về rán thịt, với bốn nghìn miếng "cốt lét" thí nghiệm, thì ở đây... ta nên đi chợ - Nghị uống cạn rất nhanh chén rượu, măt mũi loang loáng - Ông biết không, đi chợ có cái hay, rất hay của nó. Này, nhé, ở chợ, rất nhiều lần, tôi gặp và để ý tới một người phụ nữ, chắc là một người vợ, một người mẹ trong một gia đình nào đó. Vì đằng trước ghi đông xe đạp là cái cặp lồng cơm, đằng sau là cái ghế mấy nhỏ. Một khuôn mặt phải nói là khá đẹp, nếu như không phải lúc nào cũng xanh xao một nỗi lo toan. Đã bao lần chị ta dừng lại trước hàng thịt, rồi đi, lấm lét và tần ngần. Đoạn này thì chắc ông cũng được xem trên phim rồi? Có, công nhận, có thật, nhưng chưa hay. Nó mới dừng lại ở tính chất phiếm chỉ... Bà cho xin hai chén nữa! (Nghị đang hăng, nên không để ý tới chén rượu của Phái còn nguyên).

- Lưỡi này bao nhiêu hả bác? Ở vòng lượn cuối cùng, người thiếu phụ dừng hẳn lại hỏi bà hàng thịt.

- Ba mươi, chị lấy cả nhé, sáu lạng đấy! Bà hàng thịt miệng nói, tay bốc cả mớ lưỡi lợn bỏ nghiến lên cân. Thiếu phụ bối rối, thậm chí, hơi hoảng.

- Ấy không... bà cho cháu... nửa cái.

- Cái gì cơ? - bà hàng thịt nghếch cằm, hỏi lại.

Người thiếu phụ tội nghiệp nhắc lại, giọng có yếu đi.

- Bà làm ơn... cắt ra, cân cho cháu nửa cái thôi.

Chủ hàng ném con dao xuống phản, quay phắt đi:

- Không ạ, đây không bán nửa cái lưỡi chị ạ, rách việc.

... Ngụm rượu đầu tiên Phái cố nuốt mà cứ vướng ngang cổ. Một vị gì đấy lờm lợm, nóng rực, xộc lên tận óc.

- Chuyện chưa xong - Nghị gật gù, tiếp tục - thiếu phụ đã vào thế đâm lao, đây là cái thế đối với mụ bán hàng thịt, nhưng biết đâu miếng lưỡi ấy, bản thân nó đối với chị rất cần, con ốm, hay là chồng ốm chẳng hạn.

- Vâng, thì bà bán cho một cái vậy!

Mụ hàng thịt cân rất nhanh. Chị trả tiền mụ. Và mụ trả lại tiền thừa, hơi vùng vằng. Chị nhẫn nhục bỏ cái lưỡi vào trong cặp lồng, cầm tiền, dắt xe đi.

Chợt chị dừng lại, lẩm nhẩm đếm số tiền thừa, và đi tiếp. Được vài bước, chị lại dừng. Rồi ông biết không, chị ấy quay ngoắt trở lại trước mặt mụ hàng thịt:

- Vừa rồi bà trả thừa cho tôi ba mươi đồng, gửi lại bà.

Thế nào, được đấy chứ? Lên "vấn đề" đấy chứ? Đời sống khó khăn và nhân cách con người. Thích thật nhỉ, sinh động quá. Tôi sẽ viết, cái này phải viết.

Phái cười, gượng gạo. Chuyện quả là dễ hiểu, dễ tin, nhưng nó làm sao ấy. Đã đành là có thật, mà vẫn có cái gì giống như vị rượu bị rót nhầm vao chai đựng nước mắm. Cụ thể làm sao, thì Phái chịu chưa cắt nghĩa nổi. Cũng như Phái chưa thể hiểu một ông Nghị vừa khảng khái trả lại một gia sản, vừa ép mình đi dự hội nghị cốt chỉ lấy được tí tiền ăn trưa. Song có điều rõ ràng là lúc này, Phái nhận ra một Nghị khác. Không phải một anh nhà báo Nghị rụt rè, chọn góc khuất của phòng họp để ngồi, không phải một anh chồng ít nói, ảm đạm trong gia đình neo túng của mình. Không, đây là một Nghị khác, và hình như thế mới là Nghị thật - một anh binh nhất Trần Hữu Nghị gầy gò, vừa loạng choạng vác thằng bạn trên lưng, vượt qua năm cây số cát bỏng, vừa thút thít khóc như một đứa trẻ...

Nghị không để ý đến thái độ của Phái. Người đang sống với ý đồ nghệ thuật có cái may là họ biết tập trung cảm hứng.

- Này! Nghị đang lẩm bẩm một mình, bỗng ngẩng phắt lên, đập mạnh tay vào đùi Phái - Ông ạ, thiếu phụ ấy nom rất giống một người ...ừ, nhiều nét, giống lắm. Đúng rồi, gặp ông tôi mới nhớ ra.

Phái tò mò nhìn Nghị đang tủm tỉm, nửa ranh ma, nửa bí ẩn.

- Ngàn...! Giọng Nghị ngân lên.

- Sao?

- Giống hệt Ngàn! Rất giống. Chỉ có điều Ngàn khoẻ hơn, trẻ hơn nhiều, tất nhiên.

Phái lặng người một thoáng. Anh lắp bắp những lời mà chính anh cũng không hiểu:

- Ngàn nào?... Giống thế nào được...

- Ơ, còn Ngàn nào? Quên rồi hả? "Con người là giống hay quên", câu ấy mình đọc ở đâu nhỉ - Nghị cười cười, rồi trầm ngâm - Vậy mà sau khi ông đi rồi, cô ấy vẫn tới hỏi ông hai lần. Hình như còn tìm đến cả trạm quân y trung đoàn đấy.

Hai người bạn cũ còn ngồi thêm lúc lâu nữa, đủ thời gian để mớ cải xoong Phái mua nhầm cho vợ héo dần đi. Có điều, Phái chỉ ngồi im, chẳng nói chẳng rằng. Còn Nghị, cũng đến lúc anh phải chú ý đến người đối thoại, nhận ra thái độ hơi khác của Phái khi nhắc tới Ngàn, anh lảng ra, bằng cách tiếp tục triển khai các ý tưởng nghệ thuật của mình câu chuyện về con chim Hải âu nào đó...

- "Các nhà động vật học ngạc nhiên khi thấy nhiều loài chim sống thoải mái trong lồng tại các vườn bách thú. Nhưng chim hải âu lại chết rất nhanh. Có người cho rằng tại lồng chật hẹp, hải âu chết vì buồn nhớ đại dương bao la. Thực ra nỗi buồn và sự chật hẹp của lồng không phải là nguyên nhân chính, lý do đơn giản là chim bị thiếu muối biển. Chỉ cần thêm muối vào thức ăn là chim hải âu sống vui vẻ ngay...". Đấy, ông thấy thế nào? Lên vấn đề chứ. Chỉ là một đoạn ngắn vài đốt ngón tay, tôi tình cờ đọc được trên báo nhé. Chà, chà giỏi, "chỉ cần thêm ít muối vào thức ăn" là đã đánh đổ bao nhiêu câu thơ, bao nhiêu câu chuyện tưởng tượng ba hoa về nào là khát vọng tự do, nào là lòng thương nhớ thương biển rộng... đúng không?

Phái mệt thật sự. Đúng hơn là Phái cảm thấy mình mất phương hướng, anh bị rối tinh lên bởi những ý tưởng vừa tản mạn, vừa có vẻ thâm thuý đến khó hiểu của Nghị.

Khác hẳn với mọi lần, lần này chính "Phái mải chơi" lại đứng lên, giục bạn ra về.

Khi chia tay, anh chỉ rón rén hỏi Nghị có một câu:

- Thế... đã có lần nào... ông trở lại nơi đó chưa?

Gió bắt đầu thổi từ lúc mảnh trăng méo xệch, đỏ nọc nhô lên trên những nóc nhà màu xám. Đến khi có một dải mây như làn khói đen vướng ngang mảnh trăng muộn ấy, thì gió cồn lên mạnh hơn.

Phái trở dậy. Anh đã giả vờ ngủ tới tận lúc cô vợ anh ngủ thật.

Thõng chân xuống đất, anh ngồi trên giường, bần thần nghe tiếng tích tắc thản nhiên của chiếc đồng hồ quả lắc Nhật. Trong lòng anh, đúng là có điều gì đó, cứ loay hoay, thấp thỏm, rất khó gọi tên, nhưng sao quá nôn nao. Chỉ biết là điều đó khiến Phái rất sợ vợ mình thức dậy lúc này. (Từ khi biết chuyện Phái định cho bạn cái giải nhất xổ số, chị hay theo dõi anh lắm). Cô ấy đang ngủ ngon, tóc xoà lên gối trắng, cái miệng còn chút son hồng, hơi hé mở. Không gian quánh lại mùi nước hoa Pháp, mùi xà phòng Camay, mùi quần áo ngoại, mùi dép "tông" Thái Lan, mùi... Rất nhiều mùi, tổng hợp các thứ mùi của tiệm hàng.

Gió có chiều mạnh hơn nữa, cứ từng đợt ào lên, rồi lặng tắt... Tiếng sóng, đúng là tiếng sóng. Ngạo nghễ, dào dạt, dào dạt từng hồi. Giống như những đêm sống bên biển, khi thổi tắt ngọn đèn phòng không, tiếng sóng dội lên rõ hơn.

... Nơi ấy là vùng biển thẳm. Người ta gọi thế, vì khác hẳn những bãi biển nghỉ mát có bề sau thoai thoải, ở đây chỉ cần nhào người xuống là nước đã ngập đầu. Ngay cả cát cũng không giống như bãi cát tắm, người ta gọi là cát bay, vì nó không êm mịn, mà tơi xốp, quấn chặt lấy chân người.

Đơn vị pháo bờ biển của Phái và Nghị di chuyển đến đấy lúc xế chiều.

Họ đi vòng qua một cái làng nhỏ, loi thoi những nóc nhà trên cát. Thoạt đầu, nhìn một loạt những mái nhà lợp tranh mây còn mới, Phái hơi ngạc nhiên, đến khi nhìn kỹ vào những chân cột cháy sém, anh mới hiểu: người dân ở trong tầm bom, tầm pháo này đã dựng lại những túp nhà của họ không biết bao nhiêu lần.

Tiếng một con bê gọi mẹ, loang dọc con ngòi đang ngả dần sang màu tím sẫm. Tiếng khóc của một đứa trẻ ngàn ngạt vọng lên từ dưới hầm, và mùi khói bếp cay ẩm khiến những người lính trẻ đang ồn ào, bỗng chốc lặng thinh.

- Này con.... con ơi....

Phái hơi giật mình bởi có tiếng ai gọi. Trong bóng chiều nhập nhoạng, dưới bụi trẻ héo xơ đi vì gió lào, một bà mẹ nhỏ bé bước ra, nắm khẽ lấy khuỷu tay anh. Phái dừng lại.

- Các con có đói không?

Những người lính trẻ măng ồ lên cười. Họ nhanh nhảu trả lời thay Phái:

- Bộ đội phải ăn no mới vác được nặng, không đói đâu mẹ ơi.

Bà mẹ vẫn níu lấy tay Phái, đến lúc ấy anh mới nhận ra mái tóc mẹ đã bạc xơ và đôi mắt mẹ đã hơi mờ đục:

- Con ơi, sao con lại giống thằng cả nhà mẹ thế... thằng cu Sơn nớ, nó đi sáu năm rồi mà nỏ thấy tin về.

Đến đây thì những người lính không cười nữa. Họ lặng lẽ đi tiếp, bà mẹ lắc lắc tay Phái, khẩn khoản:

- Đợi mẹ lấy cho cái này... không, đợi mẹ...

Bóng bà mẹ mất hút trong căn hầm chữ A nửa nổi nửa chìm, nguệch ngoạc trên mặt cát.

Phái đứng chôn chân trong lớp cát nóng bới nắng hun cả ngày, lòng bỗng tê dại.

... Ngày ra đi, đến khi anh mặc cái áo vào người, buộc xong nút dây giày cuối cùng, ngẩng lên thì mẹ anh đã lảng vào góc buồng. Bà đứng xiêu vẹo bên cạnh cái hòm gỗ cũ anh để lại, khóc vụng không thành tiếng. Cố gắng lắm anh mới nói được vài câu với mẹ:

- Mẹ không được ra bến xe với con đâu... Để đến lúc con về, mẹ hẵng ra đón. Thôi con đi đây...

Người mẹ bối rối, cuống lên như có lỗi, đôi bàn tay nhăn nheo chùi vội lên mắt.

- Thì đợi mẹ chút con, mẹ thôi không khóc nữa đâu.

Bà mẹ tất tả chui lên cửa hầm, chạy đến bên Phái giúi vào tay anh vài củ khoai lang:

- Con ăn, rồi chia cho anh em.

Phái nhận vốc khoai, những củ khoai vỏ đỏ tía và dính vài hạt cát chỉ nhỉnh hơn ngàn tay cái, còn dâm dấp nóng. Anh chỉ biết cúi xuống sát bà mẹ, nói vội vàng:

- Mẹ ơi, xong việc, con quay lại với mẹ...

Mái tóc bạc thưa thớt của bà mẹ gật gật, rồi bà đẩy khẽ vào lưng anh.

Khư khư ôm vốc khoai vào sát bụng, Phái thập thõm chạy gằn theo đồng đội.

Đơn vị pháo phải huy động tới lực lượng dân quân địa phương, bởi tới trước khi trời sáng, họ buộc phải hoàn thành một khối lượng việc quá lớn: kéo pháo vào trận địa, củng cố hầm hào, ngụy trang và bố trí thêm trận địa giả.

Họ xúm lại kéo pháo vượt qua dải cát lấp lánh, li ti những đốm lân tinh mà sóng liên tục dào lên, để lại trên bờ. Không có tiếng hò dô vang dội. Họ cần giữ bí mật đối với những vùng phụ cận, Chỉ căn cứ vào nhịp thở của nhau để cộng lực.

Trong bóng đêm huyền bí, thăm thẳm của miền duyên hải, Phái nhận ra người đứng ở trước anh là một cô gái. Nhờ mùi lá bưởi thoảng ra từ mái tóc đen dày, ẩm ướt, nhờ bờ vai mềm và không hiểu sao lại mát lạnh, mà mỗi đợt ghì dây kéo, anh cố tình áp nhẹ một bên má nóng rực của mình vào.

Sợi dây kéo cứ khẽ trùng xuống, rồi lại căng lên theo nhịp thở của hàng chục lồng ngực trẻ trung. Đêm chuẩn bị cho trận đánh táo bạo, quyết liệt ấy là một đêm kỳ lạ đối với Phái. Không có chiến tranh, không có cái im lặng rờn rợn trước giờ nổ súng. Tất cả chỉ còn là mùi lá bưởi, là cảm giác ngây ngất mát lạnh bên má của chàng trai hai mươi tuổi lần đầu vụng trộm chạm đến bờ vai một cô gái lạ.

Vào lúc sợi dây chùng xuống, Phái lấy hơi thật dài và liều lĩnh đặt bàn tay mình chớm lên bàn tay cô gái dân quân. Thế nhưng một phép lạ đã xẩy ra, khi sợi dây căng lên thì bàn tay Phái đã nằm dưới bàn tay cô gái. Và bàn tay nóng rực ấy xiết mạnh tay anh, cùng với sợi dây, cùng với tiếng cười khe khẽ, cùng với khuôn mặt ngoảnh lại và đôi mắt long lanh sáng một cách không ngờ, trong bóng tối. Chàng pháo thủ như mê đi, như được cất khỏi mặt đất trong hương tóc và hơi thở trinh bạch thật gần...

- Anh tên chi?

- Phái, còn em?

- Ngàn.

- Ngân à?

- Không, Ngàn.

Đúng vào lúc ấy, khẩu pháo đã tới vị trí. Những tiếng hô gằn. Tiếng một cô gái nào đó khẽ kêu lên vì giẫm phải mảnh bom sắc cạnh lẫn trong cát.

- Anh biết tìm em ở đâu? - Chàng trai hỏi nhanh trong hơi thở cố ghìm nén.

- Tìm em làm chi?

Phái nghẹn lời. Cổ họng anh thoắt khô se lại. Anh không biết cách trả lời câu hỏi này. Khoảng im lặng là của riêng hai người, vì thế Phái cảm thấy bất lực khổ sở... Sắp phải xa nhau rồi. Cô gái hình như cũng nhận thấy điều đó.

- Em ở ngay đây thôi, anh có nhìn thấy ổ trực chiến kia không?

Theo hướng nhìn của cô, Phái chỉ thấy những hàng dương sẫm màu, viền quanh nó là dải cát, mờ sáng.

- Có thấy! Anh trả lời vội vã, lòng nóng bỏng một ý muốn là được nắm lấy bàn tay cô gái một lần nữa.

- Khẩu đội ba! Tập hợp!

Những bước chân phầm phập chạy tên cát.

- Mai anh sang!

Cô gái chỉ kịp nghe thấy thế, trước khi anh biến vào bóng tối.

- Mai-anh-sang! Gớm nhỉ. Cứ như là giai làng này hẹn với gái làng bên ấy!

Nghị gác chân lên Phái nói và cười rung cả cát xuống mặt, khi cả hai đã nằm trong hầm tránh pháo.

Nhưng đó là lời hẹn trong chiến tranh. Trận đánh xảy ra sớm hơn họ tưởng.

Tảng sáng hôm sau, hai chiềc tàu chiến Mỹ đã lù lù dẫn xác vào tầm pháo. Trước lúc loạt đạn đầu tiên gầm lên, Phái còn kịp nhìn sang phía ụ súng phòng không của Ngàn.

Để đến tận đêm nay, Phái cồn cào như người lỗi hẹn. Đời mình cho đến lúc này, vẫn như có người nào đó luôn cầm tay mà lôi đi. Đã có khi nào mình tự đi lấy chưa nhỉ?

Nếu bỗng nhiên thấy thêm ăn một món gì, Phái thừa sức để có cái mà ăn. Chỉ cần sục tay vào túi, lôi ra cái ví của mình. Nhưng nếu như cần đi đến nơi ấy, liệu có quá sức? Đường xá, tàu xe phiền nhiễu quá chăng?

Đi đi, dù chỉ một lần, đi lấy một mình.

Vùng biển thẳm. Dải cát và những con sóng mềm đen thẫm, lấp lánh vụn lân tinh.

Giá như được ngồi lại, dù chỉ một lần, ở bờ cát đó, đúng cái nới đêm nào bọn anh chuyển pháo, nơi mà Ngàn đã trở lại tìm anh. Bước chân trần sục trong cát bay. Vạt áo sẫm nâu. Mùi lá bưởi và bờ vai mát lạnh...

... Không, có lẽ vẫn còn những dấu vết, dù ụ súng phòng không và trận địa pháo ngày ấy đến nay chắc chắn không còn. Và Ngàn, chắc hẳn đã chồng con, đang mải miết với những công việc khác, lo toan khác, hoặc đã đi tới một nơi nào đó xa rồi...

Thế nhưng, bụi tre xơ xác và bà mẹ gầy nhỏ, với mái tóc thưa bạc ngày đó có còn không? Đứa con trai rất giống Phái của mẹ liệu đã trở về? Như thể tự an ủi, Phái cứ đinh ninh là bà mẹ vẫn còn. Bà vẫn còn ở nguyên đó, đợi anh "xong việc" thì quay lại. Nhanh lên, để được thập thõm chạy trên cát, đến trước túp nhà nhỏ, đặt tay lên tấm cửa liếp gọi to lên một câu: "Mẹ ơi, con đã về, mẹ còn nhận ra con không?"

- Ơ kìa! Anh Phái!

Vợ Phái thức dậy, thảng thốt kêu lên. Kể cũng sợ thật, đang đêm hôm, choàng mở mắt bỗng thấy ông chồng ngồi sừng sững, lẩm bà lẩm bẩm như nhập đồng, khiếp quá. Người vợ ngồi hẳn dậy, sờ tay lên trán chồng:

- Anh làm sao thế?

- Làm sao là làm sao? - Phái gắt. Rồi không biết nghĩ ngợi thế nào, anh với tay tắt nốt ngọn đèn ngủ xanh dịu, lặng lẽ trườn vào màn.

Tinh mơ, vợ Phái thức giấc lần nữa, và hoảng hốt: Phái đã biến mất từ lúc nào.

Không bao giờ anh ấy lại đi đâu vào giờ này - ý nghĩ ấy rên lên trong đầu người vợ... Cánh cửa tủ khép không kín, lòi ra cái quai ba lô con cóc. Vợ Phái vừa khóc, vừa cuống lên, lục lọi tủ: chẳng mất thứ gì. Chỉ khuyết có chiếc áo bộ đội ở trong ba lô giở ra không buộc lại.

Đến sáng hẳn, chị phát hiện thiếu thêm cái quần "tuýt xi" pha len anh ấy đang mặc dở...

Hai ngày sau, Nghị đến nhà Phái. Anh định gặp Phái, trình làng cái chuyện vừa viết xong đêm qua. Anh hăm hở, thoáng hồi hộp, tập giấy đánh máy nằng nặng trên tay. Tâm trạng rất lạ, mãn nguyện và bâng khuâng, như bà mẹ vừa qua lần sinh hạ.

Vớ được ông bạn chiến đấu của chồng trước đây, lại là nhà báo, vợ Phái lấy làm mừng lắm. Chị kể hết nguồn cơn với Nghị, rồi sụt sịt:

- ... Anh ấy gần đây khác tính lắm. Em cứ lo anh ấy làm sao. Có bà bạn làm bác sĩ thần kinh, em dỗ ngon dỗ ngọt cho anh ấy đến để người ta xem giúp, dứt khoát không! Thế rồi đùng đùng bỏ đi đêm hôm thế này... (chị khóc to hẳn)... nào có phải khổ sở gì đâu cho cam!...

Câu cuối cùng làm Nghị lặng người. Phải, nào có khổ sở gì đâu.

- Khi đi, nó ăn mặc thế nào? - Nghị hỏi như gắt.

- Thì đấy ạ, anh ấy lục ba lô, lấy ra cái áo bộ đội cũ...

Nghị chợt "à" lên một tiếng khẽ. Thâm tâm anh đã bắt đầu am ám hiểu ra Phái đi đâu rồi.

... Cái chút muối thêm vào thức ăn cho chim hải âu ở vườn bách thú có ý nghĩa gì trong chuyện này nhỉ? Vô nghĩa. Thế mà lại định dám vận vào, định nhân cách hoá lên cơ đấy. Đó là muối cho chim. Còn muối cho người? Con chim là con chim, còn con người là con người chứ. Cứ cúi gằm mặt xuống với nhau là tri kỷ vụn, thì cũng chỉ đến những triết lý vụn. Chua chát bóng gió chỉ tổ khuấy đục lên những ý nghĩ buồn. Những tâm huyết vô tình thành ra sự đầu độc. Làm cho người ta vui và hăng lên bao giờ chẳng khó hơn là xui người ta rũ xuống khóc. Trong mớ bòng bong mình huyên thuyên với Phái buổi chiều đó, hoá ra Phái chẳng nghe cái quái gì. Chỉ duy nhất một điều... Nghị nhoang nhoáng nhớ đến câu mà anh ta ngập ngừng hỏi lại lúc chia tay ở quán nước...

Và Nghị thờ thẫn nhét tập bản thảo của mình vào túi xách như nhét một mớ rau.

Vợ Phái chăm chú theo dõi Nghị, chị hiểu cái tiếng Nghị "à" lên lúc nãy theo cách hiểu của mình:

- Anh làm ở tòa báo, vậy nhờ anh đăng hộ cho cái tin...

- Tin gì?

- Tin "Tìm người nhà bị lạc" ấy ạ.

Vợ Phái mau mắn đưa luôn cho Nghị cái mẫu đã thảo sẵn:

"Anh Phùng Trọng Phái, 38 tuổi, người tầm thước, có nốt ruồi to ở cằm. Khi đi, tay có đeo nhẫn, mặc quần tuýt xi màu tàn thuốc, áo bộ đội cũ... ai gặp, xin dẫn giúp về nhà số... Chúng tôi xin chịu mọi phí tổn và xin hậu tạ".

- Vẫn thiếu - Nghị cắn răng, cố ghìm nỗi buồn giận quặn lên từ gan ruột - phải nói rõ là bị tâm thần, người ta mới đăng!

- Vâng, đúng rồi, cũng được ạ!

Nghị rã rời, buông thõng một câu vào hùa rất vu vơ, miễn để có thể ra về:

- Cái thằng, đúng là "được voi đòi tiên!"

- Tiên nào?

Vợ Phái hỏi lại ngay. Trong mắt chị mờ đi một nỗi lo âu, ngơ ngác đến thành thật.

10-1986

(sưu tầm)

Share on Facebook
Share on Twitter
Please reload

Follow us
  • Facebook Basic Square
  • Twitter Basic Square
  • Instagram Social Icon
Tin mới
Please reload

Tìm kiếm
Please reload

Tin liên quan
Please reload