Văn Miếu Quốc Tử Giám

20.08.2018

Văn Miếu, biểu tượng trường tồn của tinh hoa văn hóa, giáo dục Việt Nam là một trong những điểm du lịch đặc sắc của Hà Nội.

 

Temple of Literature, the permanent symbol of the culture and education of Vietnam is one of the unique tourist attractions of Hanoi.

 

Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám và vườn Giám và kiến trúc chủ thể là Văn Miếu - nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của Việt Nam.

 

Từ ngoài vào trong có các cổng lần lượt là: cổng Văn Miếu, Đại Trung, Đại Thành và cổng Thái Học. Với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Ngày nay, Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước đồng thời cũng là nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc và còn là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng. Đây từng là nơi các sĩ tử đến "cầu may" trước mỗi kỳ thi bằng cách vuốt đầu rùa tại các bia tiến sĩ, tuy nhiên, ngày nay, để bảo tồn di tích, một hàng rào được thiết lập và các sĩ tử không còn làm nghi thức cầu may như trước nữa. Nơi này là nơi được in trên tờ tiền polymer 100.000 VND của Việt Nam.

 

Văn Miếu được xây dựng năm 1070 thờ Khổng Tử và đến năm 1076 vua Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu. Có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Lúc đầu, trường chỉ dành cho con vua quan. Người học đầu tiên là hoàng tử Lý Càn Đức. Đến năm 1253 vua Trần Thái Tông cho mở rộng thu nhận con cái của thường dân có sức học xuất sắc. Năm 1370 khi Chu Văn An, quan Quốc Tử giám Tư Nghiệp (hiệu trưởng) cũng là thầy dạy trực tiếp các hoàng tử mất, vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử.

 

Năm 1484, vua Lê Thánh Tông cho dựng bia của những người thi đỗ tiến sĩ từ khoa thi 1442 trở đi. Mỗi khoa một tấm bia đặt trên lưng rùa. Nhưng không phải khoa thi nào tiến hành xong đều được khắc bia ngay, không phải bia nào đã dựng thì vĩnh tồn, không hư hỏng, không mất mát. Từng thời có những đợt dựng lại, dựng lại lớn. Những gì còn giữ được ngày nay là những công trình điêu khắc giá trị và tư liệu lịch sử quý báu.

 

Đến đời nhà Nguyễn, Quốc Tử Giám lập tại Huế và năm 1802 vua Gia Long ấn định đây chỉ còn là Văn Miếu - Hà Nội. Khi đó Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành cho xây thêm Khuê Văn Các, Quốc Tử Giám đổi thành học đường của phủ Hoài Đức và sau đó tại khu này xây đền Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử. Đầu năm 1947, thực dân Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay, toàn bộ khu Thái Học được xây dựng với diện tích 1.530m2 trên tổng diện tích 6.150m2 gồm các công trình kiến trúc chính là: Tiền đường, hậu đường, tả vu, hữu vu, nhà chuông, nhà trống được mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nền đất xưa của Quốc Tử Giám. 

 

Hàng năm ở Văn Miếu Quốc Tử Giám vẫn có Hội chữ Xuân được tổ chức ở Hồ Văn (hồ Giám) phía trước Văn Miếu (Hồ Văn được cho là một phần của Văn Miếu nhờ những bia văn tìm thấy trong quá trình nạo vét). "Xin chữ - cho chữ" là một nét đẹp văn hóa trong các dịp đầu năm mới.

 

Cổng vào Văn Miếu là cổng tam quan phía ngoài. Cổng có ba cửa, cửa giữa cao to và xây 2 tầng. Tầng trên có ba chữ Văn miếu môn. Ngày 18 tháng 3 năm Khải Định thứ 3, vua Khải Định bắc tuần có đến chiêm bái Văn Miếu Hà Nội và làm hai bài thơ tứ tuyệt bằng chữ Hán, rồi phán cho tỉnh thần Hà Đông khắc vào bia dựng trên gác tam quan. (bia hiện nay không còn, chỉ còn lại bệ bia, hai mặt bệ là hình hổ phù rất đẹp).

 

Từ cổng chính Văn Miếu môn, vào không gian thứ nhất gọi là khu Nhập đạo, theo đường thẳng tới cổng thứ hai là Đại Trung môn. Ngang hàng với Đại Trung môn bên trái có Thành Đức môn, bên phải có Đạt Tài môn. Dọc lối đi hai bên là không gian cây xanh và thảm cỏ cùng hai chiếc hồ chữ nhật nằm dài sát theo chiều dọc bên ngoài được trồng hoa sen thơm ngát. 

 

Con đường thẳng từ Văn Miếu môn tới Đại Trung môn lại vươn tiếp thẳng tới Khuê Văn Các. Khuê Văn Các (nghĩa là "gác vẻ đẹp của sao Khuê") là một lầu vuông tám mái, bao gồm bốn mái thượng và bốn mái hạ, cao gần chín thước.

 

Khuê Văn Các có kiến trúc hài hòa độc đáo, với hoa văn tinh vi và sắc sảo. Khuê Văn Các còn được chạm những câu đối chữ Hán rất có ý nghĩa. Gồm có: "Khuê tinh thiên lãng nhân văn xiển - Bích thuỷ xuân thâm đạo mạch trường. Hy triều phấn sức long văn trị - Kiệt các trân tàng tập đại quan Thành lâm Bắc đẩu hồi nguyên khí - Nguyệt tế thu đàm chiếu cổ tâm. Thánh hiền nhất thống đồ thư phủ - Văn hiến thiên thu lễ nghĩa bang". Có nghĩa là: "Sao Khuê trời sáng, văn minh rộng - Sông Bích xuân sâu, mạch đạo dài. Triều ta tô điểm nhiều văn trị - Gác đẹp văn hay đón khách xem. Bắc Đẩu soi thành nhiều khí tốt - Đầm thu bóng nguyệt sáng lòng xưa. Nước lễ nghĩa nghìn năm văn hiến - Phủ đồ thư một mối thánh hiền".

 

Qua Khuê Văn Các sẽ vào đến giếng Thiên Quang, bia Tiến Sĩ. Thiên Quang tỉnh (tức "giếng soi ánh sáng bầu trời") còn được gọi là Văn Trì (Ao Văn). Thiên Quang nghĩa là ánh sáng bầu trời. Đặt tên này cho giếng, người xây dựng có ý muốn nói con người thu nhận được tinh túy của vũ trụ, soi sáng tri thức, nâng cao phẩm chất, tô đẹp nền nhân văn. Giếng hình vuông, quanh bờ đều xây hàng lan can tới độ ngang lưng. Người xưa còn có quan niệm giếng hình vuông tượng trưng cho đất, cửa tròn gác Khuê Văn tượng trưng cho trời. Tinh hoa của cả trời cả đất đều được tập trung ở trung tâm văn hóa giáo dục uy nghiêm giữa chốn đế đô này. Một con đường nhỏ lát gạch bao quanh giếng cho phép người ta có thể dạo quanh giếng, lên gác Khuê Văn, vào cửa Đại Thành hoặc rẽ sang 2 vườn bia đá ở 2 bên.

 

Nhưng có lẽ di tích có giá trị bậc nhất ở đây là 82 tấm bia Tiến sĩ hình con rùa bằng đá xanh dùng để vinh danh và khích lệ những người đỗ đạt. Trong 82 tấm bia còn lại tới ngày nay, tấm sớm nhất dựng vào năm 1484, khắc tên các vị tiến sĩ đỗ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1442) tấm cuối cùng dựng vào năm 1780, khắc tên các Tiến sĩ đỗ khoa Kỷ Hợi, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 40 (1779).

 

Sau giếng Thiên Quang là Đại Thành Môn dẫn vào sân lớn. Cửa Đại Thành (cửa của sự thành đạt lớn lao), mở đầu cho khu vực của những kiến trúc chính, nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối, Thất thập nhị hiền v.v... và cũng là nơi giảng dạy của trường giám thời xưa, mang một cái tên đầy ý nghĩa tưởng không còn có thể chọn một tên nào có ý nghĩa hay hơn.

 

Chính giữa trước mặt là tòa Đại Bái Đường rộng rãi, to lớn và thâm nghiêm trải suốt chiều rộng của sân nối giáp với đầu hồi của Tả Vu, Hữu Vu 2 bên, tạo thành cụm kiến trúc hình chữ U cổ kính và thuyền thống.

 

Tòa Đại Bái Đường này là nơi nhiều trường trung học đến làm lễ dâng hương, giảng giải các giá trị văn hóa, tổ chức các lễ tốt nghiệp cho sĩ tử cũng như cầu may trước các kỳ thi.

 

Thượng Điện ở phía sau Đại Bái Đường khá kín đáo. Nơi đây là nơi thờ những vị tổ đạo Nho. Gian chính giữa có cái khám và ngai lớn để trên một bệ xây, trong có bài vị Chí thánh tiên sư Khổng Tử. Cách 2 gian 2 bên tới những gian khác cũng có bệ xây và cũng có khám, trong khám có ngai và bài vị. Bên trái có 2 ngai thờ Tăng Tử và Mạnh Tử; bên phải có 2 ngai thờ Nhan Tử và Tử Tư. Bốn vị được thờ trên đây tức là Tứ phối được quy định thờ từ ngày mới xây dựng Văn Miếu. Ngoài bài vị ra cả bốn vị đều có tượng gỗ sơn thiếp rất uy nghi.

 

Từ Thượng điện ra phía sau là khu Thái Học, nơi rèn đúc nhân tài cho nhiều triều đại. Phía trước là nhà tiền đường, phía sau là nhà hậu đường. Tầng một của hậu đường là nơi tôn vinh danh sư Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An và là nơi trưng bày về Văn Miếu - Quốc Tử Giám và nền giáo dục Nho học Việt Nam. Tầng hai là nơi tôn thờ các danh nhân đã có công xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục Nho học của Việt Nam, đó là các vị vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông.

 

Đáng kể trong Văn Miếu đó là những văn tự và những bức phù điêu nổi tiếng. "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia", đây là những dòng được trích ra trên tấm bia Tiến sĩ đầu tiên dựng tại Văn Miếu Quốc Tử Giám ghi lại lịch sử khoa thi năm 1442. "...Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết...".Người soạn ra những câu nổi tiếng đó là vị Tiến sĩ triều Lê, Thân Nhân Trung

 

Người ta cũng có thể chiêm ngưỡng bức phù điêu "Cá Chép Hóa Rồng" là một sự tích dân gian được Nho học hóa để trở thành biểu tượng cho các nho sinh đỗ đạt đăng quang. Dân gian có câu "Mồng bốn cá đi ăn thề - Mồng tám cá về cá vượt Vũ Môn". Hình tượng cá chép tụ hội thi tài ở thác Vũ Môn để hóa rồng là một biểu trưng cho những cuộc thi ở Văn Miếu. Trong bức phù điêu còn có thêm hình rồng đang phun nước xuống hạ giới. Chuyện kể rằng Vũ Môn cao quá, cá không tài nào nhảy qua được. Cảm động trước ý chí vươn lên của cá, rồng từ trên thiên giới hiện ra giáng vũ xuống cho nước dâng cao giúp cá vượt Vũ Môn. Kẻ sỹ chốn lều tranh ngõ hẻm, ngày đêm đèn sách chính là đang khổ luyện để vượt Vũ Môn. Nhà vua khuyến khích đạo học, giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sỹ cũng như rồng ban mưa xuống hạ giới để cá có thể hóa được rồng.

 

Theo văn tịch thì khu Thái Học có 150 gian phòng dành cho giám sinh, coi như khu cư xá. Năm 1946 quân Pháp đã bắn đại bác phá hủy sạch không còn lại một kiến trúc nào. Kiến trúc ngày nay là hoàn toàn mới.

 

Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trong gần một ngàn năm qua, luôn được coi là nơi lưu giữ tinh hoa văn hóa giáo dục, truyền thống tôn sư trọng đạo, khuyến đức, khuyến tài của dân tộc Việt. Vì vậy, nếu bạn có dịp đến thủ đô Hà Nội, bạn hãy dành thời gian để ghé thăm Văn Miếu, một biểu tượng văn hóa và lịch sử quý báu của Việt Nam. 

Share on Facebook
Share on Twitter
Please reload

Follow us
  • Facebook Basic Square
  • Twitter Basic Square
  • Instagram Social Icon
Tin mới
Please reload

Tìm kiếm
Please reload