Cầu treo buôn Đôn và những cuộc săn voi

07.09.2018

Buôn Đôn, nơi từng là thủ phủ của Đắk Lắk khi xưa, đã từng nổi tiếng với việc săn bắt và thuần dưỡng voi, nằm cạnh bên dòng sông Seperôk.

 

Buon Don, once the center of Dak Lak province, was once famous for hunting and domesticating elephants, located near by the river Seperok.

 

1. Đường đến Khu Du lịch Cầu treo Buôn Đôn

 

Từ Buôn Mê Thuột đến trung tâm Du lịch Buôn Đôn (Cầu treo Buôn Đôn) hơn 40km và bạn cần phải lưu ý rằng Buôn Đôn là tên của huyện này (Huyện Buôn Đôn). Vì vậy nếu bạn nói Buôn Đôn, ở một cách hiểu nào đó sẽ có nghĩa là bạn nói cả một khu vực rộng lớn.

 

Nếu theo cách gọi xưa cũ khi huyện Buôn Đôn chưa hình thành thì Bản Đôn là cách gọi của người Lào còn Buôn Đôn là cách gọi của đồng bào Ê Đê. Từ Bản Đôn có nghĩa là "Làng Đảo" để chỉ ngôi làng trên một ốc đảo nằm trên nhánh sông Sêrêpok (ốc đảo đó là một nhánh trong thác 7 nhánh). Người Lào trong quá trình giao thương trên dòng sông Sêrêpok đã ở lại đây để cùng người Ê Đê xây dựng vùng này . Chính vì vậy trên đường đi bạn sẽ thấy biển chỉ vào khu du lịch Bản Đôn của công ty Thanh Hà là đường rẽ vào thác 7 nhánh, là nơi khi xưa Vua Voi lập làng sinh sống đầu tiên.

 

Còn nếu bạn muốn đến trung tâm du lịch Buôn Đôn, nơi có cầu treo Buôn Đôn dưới cây si hàng trăm năm tuổi bạn sẽ phải đi thêm hơn 6km nữa từ đường rẽ vào khu du lịch Bản Đôn (thác 7 nhánh). Chỉ khác nhau chữ Bản và chữ Buôn thôi nhưng là 2 khu du lịch khác nhau với những cảnh sắc khác nhau. Tất nhiên, khu cầu treo Buôn Đôn là khu du lịch có từ lâu đời nhất của huyện này.

 

Ở phạm vi bài viết này sẽ đề cập đến khu vực Cầu treo Buôn Đôn, khu du lịch lâu đời của Đăk Lăk. Trên đường đi, bạn sẽ qua lối rẽ vào thác 7 nhánh, đi qua cổng vườn quốc gia Yok Don, cho đến khi bạn nhìn thấy cổng chào "Trung tâm du lịch Buôn Đôn" bạn rẽ trái, chạy thẳng thêm tầm hơn 1km nữa là đến.

 

Từ Buôn Mê Thuột cũng có tuyến xe bus đỗ ngay trước cửa khu du lịch Buôn Đôn (Tuyến số 15) hoặc bạn có thể bắt xe đi Ea Soup là cũng có thể đến nơi. Tuy nhiên nếu đi xe bus bạn sẽ có một trở ngại, đó là khó kết hợp tham quan những điểm khác xung quanh như Mộ Vua Voi (cách 3km), hoặc kết hợp thăm thác 7 nhánh trên tuyến đường về. Ở buôn Đôn, bạn sẽ khó tìm được những phương tiện dịch vụ xe ôm, taxi. Do vậy, để chủ động nhất thì bạn nên đi xe riêng hoặc thuê xe máy. Quãng đường xa 40km nhưng đường thẳng tắp và cũng là tuyến đường của xe bus nên hai bên đều có nhà dân ở khá tiện lợi (Trừ vấn đề dịch vụ gửi xe máy ở Buôn Đôn của người dân xung quanh khá cao lên đến 15.000 đồng/1xe)

 

Khu du lịch Cầu Treo Buôn Đôn có 4 điểm tham quan chính mà khách thường ghé qua. Gồm có: Cầu treo sàn si, cưỡi voi đảo Âynô (phía sau khu cầu treo), nhà gỗ cổ của Vua Voi Ama Kông, và khu văn hóa nhà mồ nơi có mộ vua Voi N'Thu K'Nul và R'Leo K'Nul .

 

Nếu bạn đến Buôn Đôn cách đây 5 năm, bạn sẽ thấy khung cảnh đìu hiu vắng vẻ. Khi xưa, nơi đặt tấm biển đá ngoài chiếc sân lớn bây giờ còn ngổn ngang với những chú voi buộc dưới gốc cây. Nhưng Buôn Đôn của ngày nay (2018) đã khác. Sạch sẽ, nhộn nhịp và nhấn mạnh các yếu tố văn hóa về những cuộc săn voi, những ngôi nhà cổ. Toàn bộ dịch vụ cưỡi voi đã được tập trung về khu đảo Âynô phía sau cầu treo một cách hợp lý.

 

Ngay ở ngoài cổng khu du lịch (cách điểm dừng xe bus 100 mét). Tầng một là nơi đón tiếp, liên hệ các dịch vụ, bán vé thăm mộ vua voi và nhà cổ (vé cầu treo bán ở dưới cổng vào cầu treo).

 

Tầng hai là nơi thuyết minh về văn hóa nhà dài của người Ê đê và những cuộc săn voi. Nếu bạn muốn nghe thuyết trình chi phí sẽ là 150.000 vnđ/1 lần thuyết trình.

 

Hầu hết các điểm du lịch ở Đắk Lắk đều sẵn sàng tổ chức giao lưu Văn hóa cồng chiêng nếu khách có nhu cầu. Ở Buôn Đôn, bảng giá được niêm yết ngay ngoài cửa. Nhìn chung, khu du lịch ngày nay quy củ, chuyên nghiệp và dịch vụ đa dạng hơn xưa.

 

2. Cầu treo và cây si cổ thụ

 

Linh hồn của khu du lịch Buôn Đôn nằm ở những chú voi và một cây si cổ thụ hàng trăm năm tuổi với vô vàn rễ phụ tỏa ra cắm xuống đất. Tán lá của cây được cho là rộng đến cả 1 héc ta. Xen kẽ trong những thân, cành của nó, người ta làm những chiếc cầu treo nối từng đoạn để vượt qua dòng sông Seperok chảy ngang.

 

Từ văn phòng nhà đón tiếp, bạn sang đường, đi qua nhà hàng của Trung tâm du lịch, rẽ xuống quầy mua vé khu Cầu Treo để vào cửa.

 

Cảm giác đầu tiên khi bước lên chiếc cầu treo bắc ngang những nhánh sông nhỏ là cảm giác rất thú vị, mỗi nhịp lắc lư của cầu lại đung đưa theo mỗi bước chân.

 

Và bạn sẽ choáng ngợp bởi độ phủ quá lớn của gốc si già (người dân gọi là cây gừa) với những thân cành rất lớn, lan tỏa, đan xen trên cả một vùng rất rộng. Có lẽ đây là cây si lớn nhất Việt Nam.

 

Tùy từng đoạn mà người ta bắc cầu đôi (hai chiếc song song cạnh nhau) hoặc cầu đơn (một chiếc). Nhưng dù đơn hay đôi thì mỗi chiếc chỉ có thể tải được một trọng lượng (số người) nhất định (theo biển cảnh báo). Do vậy khi những đoàn khách quá đông sang cầu, bạn cần phải lưu ý không chen lấn.

 

Lúc mới bước vào bạn sẽ khó định hình bởi đâu đâu cũng thấy cầu treo và thân si chằng chịt khắp mọi nơi. Nhưng tổng quát ra có thể chia toàn bộ khu cầu treo này ra thành hai khu vực chính.

 

Nếu lấy nhà hàng Sàn Si được làm ở giữa khu cầu treo, trên những thân nhánh si, làm điểm mốc thì sẽ có hai khu, gồm khu bên tay trái nhà hàng (là lối cửa soát vé đi vào) và khu bên tay phải phía sau nhà hàng.

 

Ở những điểm tiếp giáp nối nhau giữa những chiếc cầu thường có những khoảng sân gỗ nho nhỏ để dừng chân (nhưng không được ngồi nghỉ vì cản lối đi lại), nhưng khoảng sân trước nhà hàng sàn si là khoảng sân rộng nhất, đủ để chứa nhiều đoàn khách du lịch.

 

Đi sâu vào phía bên tay phải nhà hàng ở khu vực thứ hai bạn mới thấy hết độ khủng của cây si già này.

 

Những thân, rễ, cành của nó khiến bạn phải mặc nhiên công nhận rằng khó có thể tìm được một cây thứ hai như thế.

 

Dưới bóng mát của cây, bạn sẽ nghe tiếng chim hót (khi du khách chưa đến quá đông), tiếng nước chảy và bạn sẽ thấy màu sắc của những sợi tơ nhện óng ánh trong nắng, vương mắc trong những tán cây.

 

Những chiếc cầu treo nối liền kế tiếp nhau thành từng chặng, nhưng cuối cùng đều dẫn đến đảo Âynô khu cưỡi voi. Phía trái và phía phải ở phía cuối (trước khi sang đảo) cũng thông nhau nhờ những chiếc cầu. 

 

Mọi hướng đều có biển chỉ dẫn trên lối đi

 

Khi thoát khỏi những tán lá của cây si, bạn sẽ qua sông để sang đảo. Ở đây bạn sẽ nhìn thấy dòng sông đục màu chảy xiết. Nhưng điều đặc biệt ở đây là những con sóng bơi ngược dòng chảy của con sông. Có lẽ bởi dưới lòng sông có những phần gồ ghề khi dòng chảy xối xuống nước sẽ đàn hồi phản ngược lại tạo thành những con sóng như thế.

 

3. Cưỡi voi đảo Ây Nô

 

Buôn Đôn khi xưa nổi tiếng với hàng trăm, hàng ngàn chú voi. Nhưng từ sau năm 1982 khi có lệnh cấm săn bắt voi rừng, lượng voi nhà dần dần giảm xuống và chắc chắn trong tương lai mật độ này sẽ càng ít hơn, do voi nhà rất khó sinh sản.

 

Khu đảo Ây nô là một khu khá rộng. Để xem voi và tham gia các dịch vụ cưỡi voi lội sông suối, bạn đi về phía cuối bên tay trái.

 

Vườn voi và nơi mua vé nằm phía sau của nhà hàng Đảo Ây nô.

 

Chi phí cưỡi voi được tính theo chặng đường đi. Nếu voi đi 400 mét sẽ là 200.000 vnđ cho 2 người lớn và 1 trẻ em. Và nếu đi quãng đường gấp đôi 800 mét thì chi phí sẽ gấp đôi.

 

Nếu bạn đến đảo vào sáng sớm, bạn sẽ thấy những chú voi từ các ngả đang tập hợp về vườn voi để chuẩn bị phục vụ du lịch của một ngày mới. Phía xa trên dòng suối chảy trước mặt chính là quãng đường di chuyển 400 mét và 800 mét của voi. Đứng trên bờ nhìn kỹ, bạn còn có thể thấy những biển cắm nho nhỏ ghi quãng đường đã đi như sa hình trên dòng suối.

 

Vườn voi của Buôn Đôn có lẽ nhiều voi nhất trong số các khu du lịch của Đăk Lăk (so với hồ Lăk, thác 7 nhánh) thể hiện truyền thống lâu đời của nơi này. Số lượng voi cái trong vườn nhiều hơn voi đực khá nhiều (voi đực sẽ có ngà).

 

Để bắt đầu (cũng như kết thúc) một hành trình cưỡi voi, bạn sẽ xuất phát từ Đài Lên Voi được dựng bên bờ suối với độ cao ngang tầm lưng voi để khách có thể dễ dàng trèo lên bành trên lưng voi.

 

Những chú voi đã được huấn luyện sẽ di chuyển theo một cung đường đã định trên dòng suối cho đến khi hết hành trình, và sẽ quay về đài cưỡi voi để trả khách lên bờ.

 

Hành trình này khác với hành trình cưỡi voi của những năm trước đây ở Buôn Đôn. Hồi đó việc du lịch còn heo hắt và phần nhiều tự phát. Khi xưa buôn Đôn cưỡi voi được tính theo thời lượng. Voi sẽ vượt sông hồ và thậm chí trở về bằng đường bộ vắt vẻo trên đường làng.

 

Trải nghiệm cưỡi voi là một trải nghiệm hấp dẫn không chỉ khách trong nước mà cả những khách nước ngoài cũng muốn tham gia. Đặc biệt là những gia đình có em nhỏ. Những đứa trẻ được lên lưng voi cười vang cả một đoạn sông.

 

Từ đảo Ây-nô bạn sẽ quay trở lại theo lối cũ, vượt qua những cây câu treo để ra ngoài đi thăm nhà cổ và mộ vua Voi.

 

4. Nhà gỗ cổ của Vua Voi AmaKong và những cuộc săn voi.

 

Nhà gỗ cổ của ông vua săn voi chỉ cách khu cầu treo tầm 500 mét, nên nếu muốn bạn có thể đi bộ được. Nhưng sau đó nếu đi tiếp từ đây đến khu Mộ Vua Voi (khu văn hóa nhà mồ) thì phải đi thêm vài km nữa, khá xa.

 

Để tham quan ngôi nhà này bạn phải mua vé từ ngay nhà đón tiếp trên khu cầu treo. Xuống đây, xuất trình vé bạn sẽ được tham quan những gian ngoài của di tích này.

 

Ngôi nhà theo kiến trúc Lào này là một ngôi nhà gỗ hoàn toàn, từ mái ngói cho đến các khớp nối kèo cột đều hoàn toàn bằng gỗ. Trong ngôi nhà này vẫn còn nguyên các dụng cụ săn voi và những bảng thuyết minh về những dụng cụ đó của vua voi Ama Kông để lại.

 

Người khai sinh ra Bản Đôn là vua săn voi YThu K'nul (thọ 110 tuổi, danh hiệu là Khun Ju Nốp) người Lào (có người cho rằng ông là người M'Nông vì mẹ là người Ê đê lấy chồng là người M'Nông sau đó chồng mất mới lấy một người Lào làm chồng). Người kế tục sự nghiệp lãnh đạo buôn làng tiếp theo là ông R'Leo K'nul (thọ 70 tuổi) và sau đó là vua voi Ama Kông. Do không có con nên Khun Ju Nốp đưa Ama Kông về nuôi từ nhỏ (xem như là cháu). AmaKông là người dân tộc M'Nông (1910 - 2012) có tên khai sinh là Y Prông Êban, tên Lào là Khăm Proong. Vì có con đầu lòng tên Kông nên theo luật tục gọi là Ama Kông có nghĩa là cha thằng Kông. Nếu bạn đến Buôn Đôn trước năm 2012 bạn vẫn có thể gặp cụ trong ngôi nhà cổ này và nghe cụ kể chuyện. Thời thanh niên, Ama Kông được cho là cao lớn, vạm vỡ, đẹp trai, giàu có, sống phóng túng, hoang dã, dữ dội, và đào hoa. Rạng sáng ngày 3/11/2012, Amakông mất ở tuổi 103, ông có 21 người con, 118 cháu, chắt. Ông có 4 người vợ, người thứ 4 ông cưới ở độ tuổi 80 khi "không đất đai, không nhà cửa, chỉ có tay trắng. Đám cưới không giết trâu, giết bò, lúc đó chỉ làm con gà. Lễ buộc dây buộc chân không có vòng vàng vòng bạc, lấy dây rừng làm tượng trưng". Những bà vợ sau này của ông (bà ba, bà tư) cũng nổi tiếng ăn chơi, rượu chè.

 

Vào bên trong ngôi nhà cổ dù không có thuyết minh viên nhưng bạn vẫn thấy có những ghi chú đủ để du khách có thể hiểu về giá trị của những hiện vật này. Ngôi nhà cổ được xây dựng theo lối kiến trúc chùa tháp của phong tục Lào - Thái từ tháng 10/1883 đến tháng 2/1885 mới hoàn thành.

 

Sự đặc biệt của ngôi nhà nằm ở phần mái nhà lợp cũng bằng gỗ. Người ta cho rằng đây là căn nhà duy nhất của Việt Nam dùng chất liệu lợp như vậy. Và để lợp đủ căn nhà người ta phải đẽo 8.726 thanh gỗ (trung bình 2x12x35cm) để làm ngói lợp. Qua hơn 135 năm sử dụng, căn nhà đã di chuyển một lần cách địa điểm cũ 1km vào năm 1929 do nhà xung quanh bị cháy.

 

Căn nhà được làm bằng nhiều loại gỗ tốt. Để hoàn thành ngôi nhà, 18 con voi được huy động khai thác và kéo gỗ. Trị giá căn nhà khi hoàn thành được cho là tương đương 12 con voi đực có cặp ngà dài. Riêng cúng theo phong tục "tân gia" 22 con trâu bị mổ thịt. Căn nhà có 3 gian, ba mái chóp nhọn. Năm 1954, cây me già đổ làm sập mất một gian. Phía trong nhà bị hư hỏng, nặng nhất là phần trang trí nội thất. Do điều kiện, hoàn cảnh, chiến tranh, kinh tế lụn bại nên căn nhà không được khôi phục lại được và còn lại như đến ngày nay. (Những thông tin này khi bạn đến ngôi nhà bạn sẽ thấy trong bảng trích lục gia phả gắn trên tường).

 

Điểm đặc biệt nhất trong ngôi nhà đó chính là những dụng cụ săn bắt voi cùng những kỷ vật của huyền thoại đất rừng Tây Nguyên Ama Kông để lại với những bảng chú giải khá chi tiết. Những dụng cụ săn voi này bạn có thể thấy ở nhiều nơi trong các điểm du lịch của Đăk Lăk (như nhà thuyết trình tầng 2 của khu cầu treo Buôn Đôn, nhà dài của khu Bản Đôn thác 7 nhánh, bảo tàng Đăk Lăk ở Buôn Mê Thuột, biệt điện của vua Bảo Đại). Tuy nhiên những kỷ vật ở đây khác ở điểm là gắn liền với huyền thoại săn voi và được gắn những bảng giải thích nhỏ rất dễ hiểu.

 

Để bắt đầu cho một cuộc săn voi, người ta phải thực hiện nghi thức cúng đi săn voi. Chỉ huy đoàn phải cúng thần Nguach Ngual (thần cai quản voi nhà và voi rừng) tại nhà của mình. Khi nào tới rừng xa phải làm lễ cúng thần voi ở nơi ngủ lại. trên suốt đoạn đường đi nếu gặp cây chắn ngang lối thì phải cúng thần voi cầu cho đoàn đi xuôn xẻ. Trên tường của ngôi nhà cổ vẫn còn treo một kỷ vật duy nhất của ông tổ săn voi, người lập ra Bản Đôn là YThu K'nul. Đó là chiếc mâm đồng màu nâu dùng để đặt lễ vật cúng săn voi hoặc khi nhập buôn cho voi, được mang từ Lào qua. Bên cạnh chiếc mâm là thanh kiếm của vua Bảo Đại mà tù trưởng Ama Pợ Pho Khăm Súc (bố vợ vua voi Ama Kông) đã rút ra trên người vua Bảo Đại để bảo vệ vua trong một cuộc đi săn trâu bị voi rừng tấn công. Thanh kiếm sau đó đã bị gãy và được vua Bảo Đại tặng lại cho vị tù trưởng này.

 

 Đoàn săn voi vào rừng, có khi một vài tuần, có khi cả tháng. Họ lần theo dấu chân của voi rừng để biết hướng đi, số lượng voi trong đàn, bao nhiêu con to, bao nhiêu con nhỏ. Thông thường họ chỉ săn bắt những con voi từ 2 đến 4 tuổi. Vì dưới 2 tuổi là voi sữa cần phải có voi mẹ để duy trì sự sống. Trên 4 tuổi mức độ hoang dã của voi rất cao, khó thuần dưỡng. Để săn voi, họ chia làm 3 nhóm. Nhóm tấn công, nhóm kiềm chế, nhóm rượt bắt. Nhóm tấn công có nhiệm vụ đối đầu với những con voi đực, voi đầu đàn vì những con voi này có nhiệm vụ bảo vệ cả đàn voi rừng. Nhóm kiềm chế có nhiệm vụ tách voi con ra khỏi đàn và nhóm rượt bắt sẽ thực hiện nhiệm vụ khống chế và bắt voi con.

 

Khi tiếng tù và cất lên là những báo hiệu cho buôn làng biết mỗi cuộc đi săn thắng lợi trở về, khi tiếng tù và im lặng thì có nghĩa chuyến săn đó không bắt được con voi rừng nào.

 

Những chú voi con khi được bắt mang trở về bản sẽ được đưa đến nơi thuần dưỡng riêng. Ban đầu người ta cho nó nhịn đói đến lả đi rồi mới lân la cho ăn cỏ hoặc mía để làm quen với nó. Sau đó đến giai đoạn xỏ còng, người ta dùng một cái kẹp chữ V có gai nhọn bên trong buộc vào cổ voi con, dừng dây thừng kéo lên cao, sau đó dùng voi nhà kiềm chế lồng một cái cùm như số 8 vào hai chân sau và trước để nó phải bước đi chậm chạp, bớt hung hăng. Sau đó họ xích một chân sau vào gốc cây để nó chỉ đi trong một khoảng ngắn. Trong quá trình thuần dưỡng đó khi voi con hung hãn chống trả, nhờ có cái cùm chữ V ở cổ này mà nó không thể quay đầu qua lại để dùng vòi quật trả. Do nó cựa quậy quay đầu thì cành cây trên cao sẽ lắc lư nhịp lên nhịp xuống kéo cái cùm chữ V nhịp ra nhịp vào khiến gai bên trong đâm vào cổ làm nó đau đớn. 

 

Sau giai đoạn xỏ còng là giai đoạn tập cho voi xuống nước để tiện tắm và vệ sinh cho voi. Sau đó sẽ dạy cho voi chở người, thồ hàng, kéo gỗ. Và khi voi thuần thục nghỉ tập thì voi được buộc vào nơi bãi chăn thả trong rừng với voi nhà kèm cặp. Khi thả trong rừng voi sẽ bị xích với một sợi xích sắt dài 10-15 mét, nặng đến 50kg để nó khó bỏ đi xa vì vừa nặng vừa vướng cây rừng. Quá trình thuần dưỡng một con voi hiền tính mất đến 5-7 tháng. Một con voi hung dữ phải mất đến 1 năm đến năm rưỡi. Khi voi được thuần hóa xong, người ta mới làm lễ cúng nhập buôn cho voi, đặt tên cho voi và coi nó như một thành viên của gia đình, của bản và không được đánh đập, nhục mạ voi. Khi voi ốm phải được nghỉ ngơi, chăm sóc. 

 

Trong cuộc đời con voi, dụng cụ nó sợ nhất đó là cây giáo Greo. Đây là cây giáo những người quản voi dùng để điều khiển voi. Khi muốn con voi quay trái hay quay phải, họ sẽ dùng cây gậy này đâm vào màng tai trái hoặc màng tai phải của con voi. Muốn voi quỳ xuống họ đâm vào đỉnh đầu voi, còn muốn con voi đi lùi họ sẽ dùng cái ngạnh móc vào đỉnh đầu voi và kéo giật lùi. Họ sẽ làm đi làm lại cho đến khi con voi chịu nghe lời mới thôi.

 

Năm 13 tuổi, Ama Kông đã làm thợ phụ trong đoàn săn voi, đến năm 17 tuổi trở thành thợ chính. Trong chuyến săn đầu tiên đã bắt được 5 con voi rừng. Theo tập tục của buôn làng, để thống kê số lượng voi bắt được trong suốt cuộc đời một người thợ săn, người ta có một cái hũ. Bên trong hũ có 10 thanh gỗ, mỗi thanh dài khoảng 20cm, được đẽo tròn như chiếc đũa. Mỗi khi làm lễ cúng nhập buôn cho một con voi rừng, người thợ săn lại lấy một thanh gỗ ra rồi khắc một khấc để làm dấu. Cho đến khi già, bỏ nghề, người ta mới lấy ra xem cuộc đời đã săn bắt được bao nhiêu voi rừng, tương ứng với số lượng khấc trên các thanh gỗ. Ama Kông là người có 298 nấc khắc có nghĩa là bắt được 298 con voi rừng. Nhưng riêng số voi trắng ông bắt được lên đến 4 con, vượt cả ông tổ săn voi Ythu Knul.

 

Voi trắng vốn được coi là điềm lành. Vương triều nào sở hữu voi trắng được coi là vương triều hùng mạnh, thái bình. Chính vì vậy khi săn được một voi trắng ngang bằng một trăm voi đen. Thợ săn khi săn được voi trắng được phong làm Vua săn voi.

 

Ama Kông cũng từng tặng voi cho vua Thái Lan, vua Lào cũng như từng đi săn voi với Hoàng đế Bảo Đại và từng tặng một con voi trắng cho Tổng thống Ngô Đình Diệm, sau đó ông được tặng lại 3 khẩu súng và rất nhiều tiền bạc. Ama Kông cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi giấy khen kèm khoản tiền thưởng 50 nghìn đồng, do thành tích góp voi cho kháng chiến vào năm 1954. Ông từng bán nhiều con voi để về Nha Trang, Sài Gòn vui chơi. Với tài săn voi, sự giàu có, sành điệu các nhạc cụ dân tộc và chất đa tình, Ama Kông cũng là niềm mơ ước của vô số người đẹp.

 

Trong ngôi nhà cổ của Ama Kông ngày nay vẫn còn lưu lại rất nhiều bức hình của huyền thoại Tây Nguyên, trong đó có những bức hình chụp với những nhân vật nổi tiếng như anh hùng phi công vũ trụ Phạm Tuân, bà H'Ngăm Niê Kđăm....

 

 

Cùng với những vật dụng cơ bản của một cuộc săn voi, bạn cũng có thể thấy các vật dụng đi rừng khác như những chiếc gùi đi rừng, chiếc lán nhìn như chiếc thuyền để đoàn săn voi mang đi che mưa che nắng khi ở lại rừng....

 

Ama Kông không chỉ nổi tiếng trong việc săn bắt voi mà còn nổi tiếng bởi bài thuốc gia truyền có tác dụng tráng dương bổ thận, tăng cường sinh lực, chữa đau nhức xương khớp, đặc biệt là tác dụng nâng cao “bản lĩnh đàn ông” (thuốc Ama Kông).

 

Mặc dù ngày nay thuốc Ama Kông cũng được bày bán tràn lan bên ngoài rất nhiều, không biết thực hư thế nào, nhưng sinh thời ông Ama Kông cũng khẳng định về hiệu quả của phương thuốc lấy từ cây tơm trơn này. Trong ngôi nhà cổ hiện nay bạn có thể mua không chỉ loại thuốc này mà còn nhiều loại vật dụng và những loại thuốc khác.

 

5. Mộ Vua Voi và văn hóa nhà mồ Tây Nguyên.

 

Cuộc đời thăng trầm của Ama Kông và những cuộc săn voi kể ra thì nhiều như vậy nhưng khi thăm nhà cổ dù bạn xem kĩ đến đâu cũng chỉ mất chừng khoảng 30 phút. Vì không gian còn lại của nhà khá nhỏ (phần trong là gia đình đang ở). Do vậy, rời nhà cổ bạn sẽ đến điểm cuối cùng của Khu du lịch buôn Đôn, đó là Mộ Vua Voi - khu văn hóa nhà mồ Tây Nguyên, cách nhà cổ khoảng gần 3km.

 

Trên đường đi bạn sẽ thấy những ngôi nhà dài của người Ê Đê như những mô hình trong bảo tàng hay nhà trưng bày thuyết minh. Người Ê đê sống theo chế độ mẫu hệ nên vai trò của người phụ nữ nắm vị trí quyền uy. Mỗi ngôi nhà dài bạn sẽ thấy những cửa sổ dọc theo thân nhà. Người ta nói rằng, có bao nhiêu cửa sổ sẽ tương ứng bây nhiêu người con gái trong nhà. Cửa sổ nào đóng là gian phòng của cô gái đó chưa lấy chồng còn cửa sổ nào mở là cô gái đó đã có gia đình.

 

Thẳng đường đi đến cuối làng bạn sẽ thấy một chiếc cổng chào với chữ Buôn Đôn màu vàng. Từ đây bạn rẽ trái ra đường chính và đi thêm khoảng 1km.

 

Khi bạn nhìn thấy biển Hạt Kiểm Lâm, bạn rẽ trái vào đường mòn, chạy thẳng khoảng tầm 300 mét đến ngã ba sẽ tiếp tục rẽ trái.

 

200 mét tiếp theo bạn sẽ nhìn thấy biển chỉ "Khu văn hóa nhà mồ" bạn quẹo trái theo biển và chạy thẳng khoảng 400 mét là sẽ đến cửa nghĩa trang, nơi có mộ vua Voi.

 

Bạn phải nhớ rằng đây là nghĩa trang nên chẳng có ai ngồi canh gác hay đón tiếp gì cả. Chính vì vậy, cổng luôn khóa. Khi bạn mua vé tham quan trên khu cầu treo của Buôn Đôn, nếu lúc đó còn sớm chưa có đoàn nào xuống đây, bạn quản lý sẽ giao chìa khóa cho bạn (bạn sẽ đặt cọc tạm thời để nhận chìa khóa) và bạn xuống tự mở cửa vào. Chính vì thế có những đoàn đi phượt đi thẳng đến đây trước khi đến khu cầu treo, nếu may mắn gặp khách đang viếng thăm cửa mở sẽ có thể vào, nhưng nếu lúc đó không có ai sẽ tưởng rằng Mộ Vua Voi không mở cửa. 

 

Khu nghĩa trang khá rộng nhưng dường như đã được ngăn lại, khách du lịch chỉ tham quan phía Mộ Vua Voi và một số ngôi mộ xung quanh đó.

 

Mộ ông tổ vua voi YThu K'Nul (người lập ra bản Đôn) là ngôi mộ thuần túy theo kiến trúc của đồng bào Tây nguyên như một khối vuông nằm phía trong. Do ông này không có con vì vậy trong lễ bỏ mả người kế tục là R'leo K'Nul (cháu gọi bằng cậu) phải đứng lên để làm lễ và làm mộ cho ông (đồng bào Ê Đê theo tục mẫu hệ nên trong các lễ phải có người con gái cả, ngay cả tài sản thừa kế cũng là người con gái cả được hưởng). Kế bên mộ vua voi YThu K'Nul chính là mộ của R'leo K'Nul người kế vị. Ngôi mộ được xây theo lối hình chóp nhọn của dân tộc Campuchia, do chính vua Bảo Đại cho người sưu tầm kiểu dáng và xây dựng để cảm tạ về con voi trắng mà vua săn voi R'leo K'Nul đã tặng cho ông và công sức ông đã xây dựng đội tượng binh cho vua. Theo tục của người Ê đê, sau lễ bỏ mả tức là người chết đã đi đầu thai. Khi đó họ sẽ bỏ hẳn ngôi mộ và không còn quan tâm đến nữa. Do vậy ngôi mộ của ông YThu K'Nul sẽ không làm lại, dù đó là mộ tổ và nhìn nó không đẹp bằng mộ của ông R'leo K'Nul. Mộ Ama Kông không đặt ở trong khu này mà ở gần ngay chỗ nhà đón tiếp của khu cầu treo Buôn Đôn.

 

Những ngôi mộ xung quanh được giới thiệu là mộ của những thợ săn voi (nếu phía trước có hình ngà voi) và mộ của những người vợ của thợ săn nếu phía trước mộ là hình chim công (tùy mức độ quyền quý mà lượng ngà voi và chim công nhiều hay ít).

 

Lễ bỏ mả là một tập tục quan trọng của người đồng bào Tây Nguyên. Họ quan niệm sau khi tổ chức xong lễ này thì linh hồn sẽ được sớm đầu thai trở lại. Nhưng chi phí tổ chức lễ này theo tập tục rất lớn (từ 3 đến 7 ngày cả làng đến ăn) do vậy phải những gia đình có điều kiện mới có thể tổ chức sớm và nhanh chóng được. Ngôi mộ nào đã được xây kiên cố phía trên là những ngôi mộ đã tổ chức lễ bỏ mả và gọi là nhà mồ. Còn những ngôi mộ chưa được xây mới chỉ dựng tạm lên như một cái mái che là những ngôi mộ chưa tổ chức lễ bỏ mả và thi thoảng phải đưa cơm (thông qua một cái ống nối từ dưới mộ lên trên mặt đất) cho người chết trong suốt thời gian cho đến khi lễ bỏ mả diễn ra. Nếu gia đình không đủ lực để tổ chức thì gia đình sẽ phải nhờ già làng kêu gọi buôn làng hỗ trợ, vì lễ bỏ mả là bắt buộc.

 

Tất cả những ngôi mộ đều được chôn một cách nhất quán theo hướng Đông Tây (Đầu quay về hướng mặt trời mọc nơi sự sống sinh ra). Có điều đặc biệt là những người khi chết đều phải còn thân xác nguyên vẹn thì mới được chôn đúng hướng mặt trời mọc để đầu thai. Những người này gọi là chết lành. Những người chết không lành sẽ chôn theo hướng ngược lại (đầu quay về phía mặt trời lặn) và sẽ không đầu thai được (dù vẫn tổ chức lễ bỏ mả).

 

Một trong những tập tục của người đồng bào ở đây đó là chia của cho người chết. Họ sẽ quy tất cả của cải trâu bò lợn gà và chia ra cho người chết một phần (quy ra vàng và sẽ chôn vàng thật theo người chết).

 

Khép lại cánh cổng dưới gốc sung già của khu nhà mồ, nơi có mộ Vua Voi, bạn sẽ thấy rằng mặc dù bên trong có rất nhiều ngôi mộ nhưng tượng nhà mồ, một nghệ thuật điêu khắc gỗ vô cùng sống động của Tây nguyên còn vắng bóng. Hầu hết những bức tượng đều chỉ có ngà voi và chim công, một đại diện cho dũng sĩ, một đại diện cho quý phái và hầu hết các ngôi mộ đều có kiến trúc theo lối Lào hoặc Thái trong màu sắc, trong vòm mái.

 

Nếu bạn đã từng nhìn những mô hình nhà mồ điển hình của Tây Nguyên trong các bảo tàng, nhất là bảo tàng dân tộc học, bạn sẽ có những cảm nhận khác về nghệ thuật tượng nhà mồ. Đó là những bức tượng tràn đầy các sắc thái tình cảm, mà người tạc tượng gỗ này nếu không dùng trái tim cảm nhận sẽ rất khó để làm ra. Những pho tượng gỗ này mang một hình ảnh của cuộc sống đời thường, thậm chí cả những bức tượng đàn ông, đàn bà với những công cụ sinh tồn cũng được tạc với hàm ý khuyên con cháu phải biết nối tiếp phát triển dòng tộc.

 

Ngày nay, nhà mồ không còn làm bằng gỗ mà được xây bằng xi măng và gạch kiên cố nên những bức tượng nhà mồ đã bị mai một đi khá nhiều. Mặc dù thế trên đường đi đến buôn Đôn, cách cổng rẽ vào từ đường lớn nửa km, ngay bên vệ đường là một khu nghĩa trang. Đứng từ ngoài đường bạn cũng có thể nhìn thấy những ngôi mộ hiếm hoi với nghệ thuật tượng nhà mồ.

 

Cũng giống như tập tục chia của cải cho người đã mất khi bắt đầu bước chân vào thế giới bên kia, tượng nhà mồ cũng là một nét văn hóa điển hình. Những bức tượng gỗ này được xem là người để đưa đường, bầu bạn với những linh hồn đã khuất.

 

Những tượng gỗ này như có hồn với những cung bậc cảm xúc, đại diện cho lòng tiếc thương của người sống dành cho người chết. Và hơn thế nữa, nó còn đại diện cho những hình ảnh về văn hóa của Tây Nguyên, nhưng ngày nay đang bị mai một dần.

 

Từ Buôn Đôn quay lại Ban Mê Thuột, trên đường đi bạn có thể rẽ vào khu du lịch sinh thái Bản Đôn - Thanh Hà để thăm thác 7 nhánh và tìm hiểu thêm về văn hóa của đồng bào. Nếu bạn xuất phát sớm từ thành phố thì trong một ngày bạn có thể thăm trọn vẹn cả hai nơi này.

Share on Facebook
Share on Twitter
Please reload

Follow us
  • Facebook Basic Square
  • Twitter Basic Square
  • Instagram Social Icon
Tin mới
Please reload

Tìm kiếm