Lăng Tự Đức

04.09.2017

Lăng Tự Đức, hay còn gọi là Khiêm Lăng, với gần 50 công trình trong lăng ở cả hai khu vực tẩm điện và lăng mộ đều có chữ Khiêm trong tên gọi. Lăng Tự Đức là một lăng tẩm có kiến trúc khác biệt và rất nên thơ. 

 

Tu Duc Tombs, also known as Khiem Lang, with nearly 50 structures in the tombs embedded with the word Khiem in the name. Tu Duc Tomb is a tomb of different architecture and very poetic.

 

Khác với lăng Minh Mạng hay Khải Định, lối vào lăng uốn lượn quanh co phía trước lăng mộ với hồ nước, với những cây cầu bắc ra đảo nhỏ và rừng thông xanh tươi xung quanh lăng. Phía sau là điện Hòa Khiêm là nơi để vua làm việc và các quan văn võ theo hầu. Đặc biệt, bên trong còn có nhà hát Minh Khiêm là nơi để vua xem hát, được coi là một trong những nhà hát cổ nhất của Việt Nam hiện còn.

 

Tự Đức lên ngôi năm 19 tuổi và là một vị vua trị vì lâu nhất trong các vua đời nhà Nguyễn. Ông nổi tiếng là một người yêu thi ca, lịch sử và hay chữ. Người ta đánh giá rằng ông là người sát sao với việc triều chính và cũng là một người con có hiếu với mẹ là hoàng hậu Từ Dũ. Tuy nhiên, khi còn nhỏ Tự Đức bị bệnh đậu mùa nên mặc dù có 103 bà vợ nhưng ông không có con. Ông nhận 3 người con nuôi và cũng không lập hoàng hậu, cao nhất chỉ là hoàng quý phi.

 

Sau khu vực tẩm điện là khu vực lăng mộ với tấm đia bằng đá Thanh Hóa nặng 20 tấn khắc bài "Khiêm Cung Ký" do chính Tự Đức soạn với nội dung là một bản tự thuật của nhà vua về cuộc đời, vương nghiệp cũng như những rủi ro, bệnh tật của mình, kể công và nhận tội của Tự Đức trước lịch sử. Đằng sau tấm bia là hai trụ biểu lớn như hai ngọn đuốc tỏa sáng cùng với hồ Tiểu Khiêm hình trăng non đựng nước mưa để linh hồn vua rửa tội.

 

"Vạn niên là vạn niên nào. Thành xây xương lính, hào đào máu dân". Lăng Tự Đức ban đầu đặt tên là Vạn Niên Cơ với ý nghĩa là trường tồn. Tuy nhiên, do công việc sưu dịch xây lăng quá cực khổ, lại bị quan lại đánh đập tàn nhẫn đã dẫn đến cuộc nổi loạn Chày Vôi của dân phu xây lăng năm 1866. Tên cuộc nổi loạn gọi là Chày Vôi vì họ dùng luôn công cụ là chày vôi để làm vũ khí. Tuy nhiên cuộc đảo chính bị thất bại và tên lăng được đổi lại thành Khiêm Lăng.

 

Dưới thời Tự Đức, quân sự của triều đình không mạnh, vũ khí trang bị thô sơ không được nâng cấp do các vấn đề về tài chính. Tự Đức khước từ mọi giao thiệp với người phương Tây, làm ngơ các đề nghị xin thông thương của nhiều nước như Anh, Pháp, Tây Ban Nha. Ngoài ra ông cấm đạo Công Giáo rất tàn nhẫn dẫn đến sau này thực dân Pháp có cớ qua xâm lược Việt Nam. Mặc dù khi quân Pháp tấn công Việt Nam, đánh đâu là thắng đó, nhưng do khác biệt về thời tiết và địa hình nên ban đầu họ gặp những khó khăn. Nhưng ngay cả khi người Pháp đề nghị việc giảng hòa, chỉ xin được tự do giảng đạo Công giáo và được buôn bán với Việt Nam nhưng triều đình Huế đã không đồng ý.

 

Đến năm 1862, quân Pháp chiếm Biên Hòa và Vĩnh Long và nhà Nguyễn buộc phải giảng hòa và ký hòa ước cho phép tự do giảng đạo, cho phép chiến thuyền Pháp tự do ra vào sông Mê Kông và nhượng đứt cho nước Pháp các tỉnh Biên Hòa, Gia Định. Đến năm 1873 trong 20 ngày, Việt Nam tiếp tục mất 4 tỉnh Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương. Khi ấy có Lưu Vĩnh Phúc là đầu đảng của quân Cờ Đen về hàng triều đình Huế, vua Tự Đức phong cho chức Đề đốc để phụ đánh quân Pháp. Lưu Vĩnh Phúc đem quân ra đánh thành Hà Nội. Francis Garnier đem quân ra nghênh thì bị phục kích chết ở cầu Giấy. Paris biết chuyện nên triệu thiếu tướng Dupré về Pháp. Dupré tìm cách đỡ tội, sai đại úy hải quân Paul-Louis-Félix Philastre ra Hà Nội để trả lại thành và bốn tỉnh bị chiếm. Năm 1874, hai bên ký hòa ước tiếp theo, triều đình Huế công nhận cả miền Nam thuộc về Pháp và Pháp cũng bồi thường chiến tranh cho Việt Nam bằng tàu bè và súng ống.

 

Năm 1882, thống đốc Le Myre de Vilers gởi thư cho triều đình Huế nói rằng vua ngu tối, bất lực, đất nước loạn ly, Pháp phải trấn an miền Bắc để bảo vệ quyền lợi của dân Pháp. Một mặt Le Myre de Vilers gửi đại tá hải quân Henri Rivière ra Hà Nội, đưa tối hậu thư cho quan Tổng đốc Hoàng Diệu bắt phải hàng. Đúng 8 giờ sáng thì quân Pháp tấn công, 11 giờ thành đổ, ông Hoàng Diệu treo cổ tự tử. Khâm sai Pháp ở Huế là Rheinart sang thương thuyết, trong đó đòi nước Việt Nam phải nhận nước Pháp bảo hộ và nhường thành thị Hà Nội cho Pháp. Triều đình cho người sang cầu cứu Trung Quốc. Triều đình nhà Thanh được dịp bèn gởi quân qua đóng hết các tỉnh Bắc Ninh và Sơn Tây. Quân Pháp và quân Trung Quốc giao tranh. Đại tá Henri Rivière bị quân Cờ Đen giết tại cầu Giấy. Sau cái chết của vua Tự Đức, các vị vua ít tuổi lần lượt được đưa lên Dục Đức, Hiệp Hòa. Ngày 20 tháng 08 năm 1883 Pháp tấn công vào cửa biển Thuận An, một hiệp ước được ký kết Hiệp ước Quý Mùi 1883 với nội dung là xác nhận quyền bảo hộ dài của người Pháp lên Trung Kỳ và Bắc Kỳ.

Share on Facebook
Share on Twitter
Please reload

Follow us
  • Facebook Basic Square
  • Twitter Basic Square
  • Instagram Social Icon
Tin mới
Please reload

Tìm kiếm
Please reload

Tin liên quan
Please reload