Đàn ca tài tử - Dạ cổ hoài lang

16.07.2018

Về thăm Bạc Liêu, du khách vẫn thường ghé qua Khu lưu niệm nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ - Nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Đây là dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã được Unesco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể có vùng ảnh hưởng lớn với phạm vi 21 tỉnh thành phía Nam.

 

Khu di tích lịch sử văn hóa - Khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu rộng gần 3000 m2 và sau được mở rộng hơn nữa với các công trình cổng tam quan, nhà bao che khu mộ nhạc sĩ Cao Văn Lầu, tượng nhạc sĩ Cao Văn Lầu, nhà trưng bày tài liệu, hiện vật, hình ảnh của các nhạc sĩ, sân khấu ngoài trời, nhà đón khách....

 

Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật có nguồn gốc từ nhã nhạc cung đình Huế, do ba nhạc sư gốc Trung Bộ là Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi - Nhạc quan triều đình Nguyễn), Trần Quang Quờn và Lê Tài Khị sáng tạo nên. Trong quá trình du nhập vào miền Nam hoà cùng dân ca Nam Bộ, nhã nhạc ca Huế pha lẫn âm nhạc từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và mang đậm tính cách giải trí vui chơi chứ không thuộc loại nhạc lễ.

 

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu có cùng năm sinh với bác Hồ và mất năm 1976 là tác giả bài "Dạ cổ hoài lang" một bài ca độc đáo và nổi tiếng nói lên tâm sự người vợ nhớ chồng lúc về đêm. Từ bản "Dạ cổ hoài lang" mỗi câu 2 nhịp các nghệ sĩ sau này chuyển lên 4 nhịp (1927-1935) sau đó tăng lên 8 nhịp (1936-1945) mà thành bản vọng cổ đầu tiên. Từ 8 nhịp tám lên nhịp 16, nhịp 32, 64... và thông dụng nhất sau này chính là nhịp 32.

 

Vọng cổ là một trong những bài bản chính của sân khấu cải lương. Chính vì vậy ý nghĩa của bài "Dạ cổ hoài lang" rất lớn. Người ta nói rằng đờn ca tài tử như là rễ thì sân khấu cải lương như phần ngọn. Sự khác biệt lớn nhất trong trình diễn giữa hai loại nghệ thuật này chính là cải lương cần phải có phục trang, sân khấu, đèn sáng, âm thanh và khán giả còn đờn ca tài tử mang tính chất chia sẻ cao trong cộng đồng với những nhóm nhỏ không nặng về phần trình diễn và có thể ngồi nghe trực tiếp với nhau.

 

Khu tưởng niệm cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu với cổng vào đi qua đài phun nước là ngôi nhà tưởng niệm với hình chiếc đàn nguyệt cầm (đàn kìm). Xung quanh cây đàn nguyệt cầm có 21 chậu cây xanh tượng trưng cho 21 tỉnh thành của miền Đông và miền Tây Nam Bộ có sự phát triển mạnh về loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử, từ Ninh Thuận, Bình Thuận kéo dài đến Cà Mau.

 

Ở thân cây đàn nguyệt cầm hay còn gọi là đàn kìm là những hình chữ thư pháp tượng trưng cho 20 bài tổ của Đờn ca tải tử có 3 nam, 6 bắc, 7 lễ, 4 oán. Phía trước là tượng của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu đang ngồi ôm chiếc đàn kìm với lời bài Dạ cổ hoài lang được tạc phía sau lưng bức tượng.

 

Ở trung tâm của sân là vườn nhạc cụ với 12 loại nhạc cụ của đờn ca tài tử. Tuy nhiên thực tế người ta thường sử dụng phổ biến 4 loại đàn chính và gọi là tứ tuyệt (Đàn tranh hay còn gọi là đàn thập lục 16 dây, đàn kìm hay còn gọi là nguyệt cầm vì có hình mặt trăng, đàn cò hay còn gọi là đàn nhị, đàn bầu hay còn gọi là đàn độc huyền).

 

Ở giữa vườn là bia đá khắc lại bằng vinh danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại vào ngày 05/12/2013. 

 

 Bên cạnh vườn là nhà trưng bày nghệ thuật đờn ca tài tử và sân khấu cải lương.

 

Trong khu nhà trưng bày được đặt mô hình tái hiện lại hình ảnh đờn ca tài tử của các nam nữ thanh niên nông thôn vui chơi sau những giờ lao động. Ban đầu loại hình nghệ thuật này chỉ có người đàn chứ không có người hát, dần dần về sau những người sáng tác lại viết thêm phần lời để hòa vào nhạc. Trong một nhóm nhạc đàn ca tài tử người nào giữ song loan thì tương đương với nhạc trưởng giữ nhịp phách của dàn nhạc. Song loan là một loại mõ nhỏ bằng gỗ cứng hình dẹt, rất nhỏ bé so với nhạc cụ khác dùng để giữ nhịp không dùng để độc tấu. Nó có vị trí cơ bản trong dàn nhạc tài tử và cải lương.

 

Bên cạnh những mô hình đờn ca tài tử trong nhà trưng bày là những hình ảnh và hiện vật của loại hình nghệ thuật cải lương vốn được phát triển lên từ đờn ca tài tử và cụ thể là từ bài "Dạ cổ hoài lang". Vở cải lương đầu tiên được đưa lên sân khấu là "Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga" của thầy Năm Tú.

 

Ở đây người ta còn được ngắm nhìn ảnh của những nghệ sĩ nhân dân nổi tiếng. Người được nhắc đến nhiều nhất trong nghệ thuật cải lương là Nghệ sĩ nhân dân Phùng Há (bìa trái ngoài cùng ảnh), người phụ nữ làm phát sinh cuộc đấu giữa Hắc Công Tử Bạc Liêu và Bạch Công Tử Mỹ Tho đốt tiền làm đuốc để tìm đồ bà đánh rơi. cô Bảy Phùng Há được xem là người mẹ của cải lương vì không chỉ hát hay mà bà còn đào tạo ra rất nhiều học trò trong đó có nghệ sỹ Thanh Nga (ảnh kế tiếp). Nghệ sĩ Thanh Nga được coi là nữ hoàng sân khấu cải lương vẹn tài vẹn sắc nhưng lại mất khi mới 36 tuổi cùng với chồng trong một vụ ám sát. Cạnh nghệ sĩ Thanh Nga là ảnh của ông vua vọng cổ, đệ nhất danh ca Út Trà Ôn nổi tiếng với bài "Tình anh bán chiếu". Kế tiếp là nghệ sĩ Bạch Tuyết, người được xem là "Cải lương chi bảo" của loại hình nghệ thuật này.

 

Ở căn nhà trưng bày kế tiếp là nơi lưu giữ riêng về nhạc sĩ Cao Văn Lầu, tác giả bài "Dạ cổ Hoài Lang" được xem là kiệt tác cần được lưu truyền. Nơi này còn treo những bản nhạc của ông, những nhạc cụ ông đã dùng với tuổi thọ hơn 100 năm.

 

Đáng chú ý là bức tượng bằng silicon của cố nhạc sĩ được làm bên Thái Lan rất tỉ mỉ đến từng sợi tóc giống như người thật. Phía sau bức tượng là bản thảo Dạ cổ hoài lang và hình ảnh cuộc đời ông, từ những ngày gia đình ông còn khó khăn khi ông còn ở trong chùa để theo học kinh phật và học chữ Nho. Nhạc sĩ Cao Văn Lầu vốn là người Long An về sau gia đình chuyển về sống ở Bạc Liêu. Năm 25 tuổi, ông lấy vợ là bà Trần Thị Tấn khi đó mới 16 tuổi. Sau 3 năm hai vợ chồng không sinh được con nên mẹ của nhạc sĩ Cao Văn Lầu theo quan điểm của thời phong kiến đã ép ông trả vợ lại cho nhà đẻ để tìm cưới vợ khác. Mặc dù vậy, với sự hậu thuẫn của bên ngoại hai người vẫn lén lút qua lại với nhau và sau 1 năm thì bà Tấn sinh con. Hai ông bà đã có với nhau 7 người con.

 

Người ta nói rằng, trong khoảng thời gian xa nhau, ông cảm thương nỗi lòng của người vợ nhớ thương chồng nên đã viết ra bài "Dạ cổ hoài lang". Dạ là đêm, cổ là tiếng trống, hoài là nhớ mong, lang là chồng, bài hát mang ý nghĩa là nửa đêm nghe tiếng trống nhớ thương chồng. Bản gốc "Dạ cổ hoài lang" được nhấn mạnh ở câu thứ 2 với từ "sắc phán" (lệnh ban, vua phán) khác với các nghệ sĩ hay hát là "sắc phong" (vinh danh, phong tặng). Thực tế, ý nghĩa gốc của bài này nằm ở phần nhạc lý do nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác ra, nó chính là tiền thân phát triển của ca vọng cổ mà ca vọng cổ chính là phần hồn của sân khấu cải lương.

 

Phía trong khu tưởng niệm còn có phần mộ của nhạc sĩ Cao Văn Lầu cùng vợ và song thân. Nhạc sĩ Cao Văn Lầu hưởng thọ 86 tuổi và vợ ông bà Trần Thị Tấn hưởng thọ 68 tuổi.

 

(Nguồn video: Kênh youtube của MrLeoheart)

 

Ngày nay, mỗi khi về miền Tây, người ta không thể dừng chân lắng nghe tiếng hát tiếng đàn tài tử với nhịp gõ phách của song loan. Những hình ảnh giản dị của miền Tây sông nước với những lời ca mộc mạc, da diết, ai oán như thấm vào từng cõi lòng của du khách để lại những kỉ niệm khó quên về mảnh đất này.

Share on Facebook
Share on Twitter
Please reload

Follow us
  • Facebook Basic Square
  • Twitter Basic Square
  • Instagram Social Icon
Tin mới
Please reload

Tìm kiếm
Please reload