Sắc màu Hồ Tây

20.08.2018

Hồ Tây, hồ nước lớn nhất Hà Nội, gắn liền với cuộc sống của người dân nơi đây nhưng cũng là một trong những cảnh đẹp của thủ đô Hà Nội.

 

West Lake, the largest lake in Hanoi, is associated with the life of people here but also one of the beauty of Hanoi capital.

 

Hồ Tây rất rộng, hơn 500 ha với chu vi lên đến 18km. Người ta cho rằng khi xưa đây là một đoạn của sông Hồng. Để đi hết một vòng quanh Hồ Tây, bạn cũng mất cỡ chừng nửa tiếng đồng hồ. Đây cũng là một cung đường chạy bộ hoặc đạp xe của rất nhiều người mỗi sáng sớm.

 

"Đường Cổ Ngư xưa chầm chậm lối ta về" là câu hát về con đường ngăn đôi giữa hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Đường Cổ Ngư nay đã được đổi tên thành đường Thanh Niên theo ý kiến của Bác Hồ (vì con đường này vốn do thanh niên thủ đô cải tạo xây dựng lại khang trang như ngày nay), ngày xưa con đường này còn được gọi là đường tình yêu bởi mỗi chiều rất nhiều đôi trai gái ra đây hóng mát.

 

Mặc dù vậy trong quá khứ hồ Trúc Bạch cũng chỉ là một phần của Hồ Tây. Hồ này được hình thành khởi thủy do dân làng đắp đập ngăn nước nuôi cá. Ngày nay, sự phối cảnh giữa hồ Trúc Bạch, đường Thanh Niên và hồ Tây tạo thành một trong những khung cảnh đẹp nhất Hà Nội.

 

Để có những góc nhìn đẹp về Hồ Tây nhất định bạn phải chọn những quán cafe có view từ trên cao nhìn xuống. Chỉ ở những tầm cao thì vẻ đẹp của Hồ Tây mới hiển hiện hết. Còn nếu như bạn muốn nhìn thấy một Hồ Tây đời thường bạn có thể đi dạo ven hồ mỗi sáng sớm tinh mơ hoặc khi hoàng hôn xuống. Hoàng hôn Hồ Tây cũng là một vẻ đẹp đầy cảm xúc.

 

Trước đây Hồ Tây vốn không mở đường nối liền quanh hồ. Từ phía đường Xuân Diệu hay từ Phủ Tây Hồ đi xuống chỉ đến nhà hàng Phương Nguyên là hết lối đi phải quay lại. Chính vì vậy trong quá khứ Hồ Tây có một nửa diện tích đường ven hồ vô cùng vắng vẻ thanh bình, là nơi lý tưởng của Hà Nội do không có xe qua lại, nhất là khu nhà Hàn Quốc với con đường tình yêu được các sinh viên mỹ thuật vẽ phủ kín mặt đường và những bức tường. Ngày nay, đường đã thông nên ven hồ lúc nào cũng nhộn nhịp xe qua lại, những hình vẽ trước kia đã bị tẩy đi mất vì làm mất mỹ quan của khu công cộng. Hồ Tây đã náo nhiệt, nhộn nhịp hơn, nhưng vẫn hàm chứa những vẻ đẹp hấp dẫn của thiên nhiên mà không khi nào thay đổi.

 

Trục đường lãng mạn nhất của Hồ Tây, đường Thanh Niên, có thể coi là con đường của nhiều khách du lịch bởi phía đầu là đền Quán Thánh nơi thờ Trấn Thiên Huyền Vũ và ngôi chùa Trấn Quốc nổi tiếng cũng nằm trên con đường này.

 

Đối diện với chùa Trấn Quốc là đền thờ Cẩu Nhi, đền thờ Chó Đá có từ đời nhà Lý gắn liền với những câu chuyện trong truyền thuyết khi Lý Công Uổn lên ngôi vua.

 

Hoàng hôn Hồ Tây là nguồn cảm hứng của vô vàn các nhiếp ảnh gia ở Hà Nội. Nó không chỉ là câu chuyện của một ngày mà nó là những thời khắc. Thời khắc của hoàng hôn trong những mùa khác nhau, vào những ngày sương mù trải rộng, những ngày trời quang rực rỡ. Mỗi lúc lại mang một vẻ đẹp riêng biệt.

 

Hồ Tây xưa vốn từng có tên là Đầm Xác Cáo gắn liền với truyền thuyết về một con hồ ly tinh chín đuôi hãm hại người chốn nhân gian. Để giúp dân lành, Lạc Long Quân đã ra lệnh cho sáu đạo quân của thủy phủ dâng nước lên công phá trừ hồ ly. Nơi này trở thành một cái vũng sâu do đó, hồ có tên là đầm Xác Cáo. Ngày nay con đường bao quanh phía Tây Hồ Tây mang tên Lạc Long Quân, còn đường bao quanh phía Đông chạy dọc đê sông Hồng từ Nghi Tàm đến Nhật Tân là Âu Cơ thể hiện lòng cảm ơn đối với ân đức của nhà vua.

 

Ngoài tên Đầm Xác Cáo, hồ còn có tên là KIm Ngưu, Dâm Đàm (sương mù), Lãng Bạc, Đoài Hồ, Diêm Hồ, Liêm Đàm gắn với những thuyền thuyết trong lịch sử. Nhưng cuối cùng người ta vẫn quen gọi là Hồ Tây.

 

 

Hồ Tây không chỉ đẹp lúc hoàng hôn xuống mà còn lung linh trong ánh điện từ lúc phố lên đèn cho đến đêm khuya. Những khung cảnh mờ tối dần dần từng ngọn đèn được bật lên cho đến khi toàn thành phố lấp lánh ánh điện là những khung cảnh huyền ảo của thành phố và cũng là của Hồ Tây lay động bao du khách khi đến Hà Nội.

 

Đền Quán Thánh

 

Đền Quán Thánh nằm trên đường Thanh Niên, tên chữ là Trấn Vũ Quán, có từ đời Lý Thái Tổ (1010 - 1028), thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, là một trong bốn vị thần trấn giữ bốn cửa ngõ thành Thăng Long khi xưa (Thăng Long tứ trấn). Bốn ngôi đền đó là: Đền Bạch Mã (trấn giữ phía Đông kinh thành); Đền Voi Phục (trấn giữ phía Tây kinh thành); Đền Kim Liên (trấn giữ phía Nam kinh thành); Đền Quán Thánh (trấn giữ phía Bắc kinh thành).

 

Ngày xưa, vua Minh Mạng nhà Nguyễn khi ra tuần thú Bắc Thành cho đổi tên đền thành Chân Vũ quán. Ba chữ Hán này được tạc trên nóc cổng tam quan. Tuy nhiên, trên bức hoành trong Bái đường vẫn ghi là Trấn Vũ quán.

 

Có thể thấy người xưa chấp nhận cả hai cách viết và gọi là Trấn Vũ quán và Đền Quán Thánh. Quán là Đạo Quán và là nơi thờ tự của Đạo Giáo, cũng như chùa là của Phật giáo. Thánh Trấn Vũ là một hình tượng kết hợp nhân vật thần thoại Việt Nam (ông Thánh đã giúp An Dương Vương trừ ma trong khi xây dựng thành Cổ Loa) và nhân vật thần thoại Trung Quốc Chân Võ Tinh quân (vị Thánh coi giữ phương Bắc).

 

Từ phía đường Thanh Niên, bạn gửi xe trước cửa đền, mua vé vào cổng, bạn sẽ thấy ngôi chùa rợp bóng cây xanh mát.

 

 Phía trước hai bên sân là tượng voi phục hai bên.

 

Bên trong đền là tượng Huyền Thiên Trấn Vũ cao 3,96m, chu vi 8m, nặng 4 tấn, tọa trên tảng đá cẩm thạch cao 1,2m. Tượng có khuôn mặt vuông chữ điền nghiêm nghị nhưng bình thản, hiền hậu với đôi mắt nhìn thẳng, râu dài, tóc xoã không đội mũ, mặc áo đạo sĩ ngồi trên bục đá với hai bàn chân để trần. Bàn tay trái của tượng đưa lên ngang ngực bắt ấn thuyết pháp, bàn tay phải úp lên đốc kiếm, kiếm chống trên lưng rùa nằm giữa hai bàn chân, quanh lưỡi kiếm có con rắn quấn từ dưới lên trên. Rùa, rắn và kiếm là biểu trưng của Huyền Thiên Trấn Vũ. Pho tượng này là một trong những kho tượng đồng nguyên khối lớn nhất Việt Nam và được công nhận là bảo vật quốc gia.

 

Theo như sự tích được ghi chép ở đền thì Huyền Thiên Trấn Vũ là thần trấn quản phương Bắc đã nhiều lần giúp nước Việt đánh đuổi ngoại xâm. Lần thứ nhất vào đời Hùng Vương thứ 6 đánh giặc từ vùng biển tràn vào, lần thứ hai vào đời Hùng Vương thứ 7 đánh giặc Thạch Linh... Huyền Thiên Trấn Vũ còn giúp dân thành Thăng Long trừ tà ma và yêu quái, giúp An Dương Vương trừ tinh gà trắng xây thành Cổ Loa.

 

Chùa Trấn Quốc

 

Cách đền Quán Thánh không xa là chùa Trấn Quốc. Chùa Trấn Quốc có lịch sử 1500 năm, được coi là lâu đời nhất ở Thăng Long - Hà Nội. Kiến trúc chùa có sự kết hợp hài hoà giữa tính uy nghiêm, cổ kính với cảnh quan thanh nhã trên nền tĩnh lặng của một hồ nước mênh mang.

 

Vào thời nhà Lý và nhà Trần, chùa Trấn Quốc từng là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long. Với những giá trị về lịch sử và kiến trúc, chùa Trấn Quốc nổi tiếng là chốn cửa Phật linh thiêng, là điểm thu hút rất nhiều tín đồ Phật tử và khách tham quan, du lịch trong ngoài Việt Nam.

 

Người ta cho rằng chùa Trấn Quốc được xây dựng từ thời Lý Nam Đế, 541-547 sau đó được di dời vào hòn đảo Kim Ngư của Hồ Tây vào năm 1615 do bờ tả sông Hồng lở đến sát chùa. Năm 1842 vua Thiệu Trị cho đổi tên chùa là Trấn Bắc nhưng tên Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến tận ngày nay.

 

 

Cổng vào dành cho du khách ngày thường sẽ mở bên lối tay phải. Du khách qua cổng sẽ có lối rẽ bên tay trái vào tiền đường, thượng điện và nhà bia. Nếu không rẽ mà đi thẳng ra phía sau sẽ là khu nhà tổ trước cây bồ đề cổ thụ.

 

Cổng vào tiền đường sau nhiều lần trùng tu đã rất khang trang và sạch đẹp.

 

Trong chùa hiện nay đang lưu giữ 14 tấm bia. Trên bia khắc năm 1815 có bài văn của tiến sĩ Phạm Quý Thích ghi lại việc tu sửa lại chùa sau một thời gian dài đổ nát. Công việc này bắt đầu vào năm 1813 và kết thúc vào năm 1815. Ở khu nhà bia có Bảo tháp lục độ đài sen được xây dựng năm 1998. Bảo tháp lớn gồm 11 tầng, cao 15m. Mỗi tầng tháp có 6 ô cửa hình vòm, trong mỗi ô đặt một pho tượng Phật A Di Đà bằng đá quý. Đỉnh tháp có đài sen chín tầng (được gọi là Cửu phẩm liên hoa) cũng bằng đá quý.

 

Khu vực chính của chùa gồm nhiều lớp nhà với ba ngôi chính là Tiền đường, nhà thiêu hương và thượng điện. Trong sân là một cây nhãn cổ thụ mỗi mùa lại ra những chùm quả sai nặng trĩu.

 

Chùa được công nhận là Di tích Lịch sử Văn hoá cấp quốc gia vào năm 1989. Nhưng do nhiều lần trùng tu, sửa chữa nên kiến trúc chùa đã không khỏi bị pha tạp phong cách kiến trúc của các thời kỳ khác nhau.

 

Dọc theo lối hành lang ven hồ về phía sau là gian cuối với khoảng sân rộng trước mặt.

 

Trước sân là cây bồ đề do đích thân Tổng thống Ấn Độ Prasat trao tặng tận tay Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 21/3/1959. Cây Bồ đề này là cây Bồ đề hậu duệ đời thứ nhất của cây Bồ đề Tổ ở làng Bodh Gaya, bang Bihar, Ấn Độ, nơi Đức Phật đã giác ngộ hoàn toàn sau 49 ngày thiền định.

 

Trấn Quốc cổ tự nơi được coi chứng tích lịch sử, chứng kiến bao thăng trầm, biến thiên của thời gian. Ngôi chùa này đã song hành với kinh thành Thăng Long hàng nghìn năm lịch sử. Nếu bạn đến thăm Hồ Tây, đến đền Quán Thánh, bạn hãy dành thời gian để ghé thăm chùa Trấn Quốc và nghe những câu chuyện lịch sử về nơi này.

Share on Facebook