Chùa Phật tích Trúc Lâm Bản Giốc

28.08.2018

Nằm trên lưng chừng ngọn núi Phia Nhằm, chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc nhìn thẳng ra dãy núi nơi dòng sông Quây Sơn chảy qua và đổ xuống thành thác Bản Giốc. Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc có một vị trí không thể nào đẹp hơn khi bao quát mọi tầm nhìn núi non và dòng thác nổi tiếng giữa biên giới.

 

Situated on the mountain of Phia Nhằm mountain, Phat Tich Truc Lam Pagoda looks over the range of mountains where Que Son river flows, falls down and forms the Ban Gioc waterfall. The Truc Lam Ban Gioc Pagoda has an unbeatable location that covers all the mountain views and the famous waterfall between the border.

 

Chùa được khởi công từ tháng 6/2013 và được cho là ngôi chùa đầu tiên ở nơi biên cương phía Bắc. Chùa chỉ cách thác Bản Giốc 500 mét và cũng là địa điểm duy nhất giúp du khách có thể nhìn thấy được toàn cảnh thác Bản Giốc từ trên cao.

 

Từ cổng bên dưới đường, nơi có chỗ gửi xe lên núi, còn cách chùa một con dốc dài với một đoạn dốc khá dựng. Nếu bạn đi xe ôm các anh xe ôm thường chở khách lên đến tận sân chùa.

 

Hệ thống chùa bắt đầu từ cổng tam quan nằm phía trước như một chiếc vọng đài (ở cuối dốc lên sẽ có một lối rẽ vào sân gạch của cổng tam quan và một lối đi thẳng lên ngôi Tam Bảo chùa chính). Nối liền với cổng Tam Quan là một hành lang dốc chạy ngược lên sườn núi, theo thứ tự sẽ đến lầu chuông và lầu bia, tượng Phật Bà Quan Âm hiền hòa đang nhìn ra núi, phía sau Phật Bà là ngôi Tam Bảo và sau lưng chùa chính là Nhà Mẫu, nhà Tổ, đền thờ các vị anh hùng nằm sát nhau. Ngoài ra bên hông còn có nhà khách, vườn tượng phật và sau vườn tượng phật là đường lên trên núi sau chùa.

 

Nếu theo đúng trình tự bạn sẽ bắt đầu từ cổng Tam Quan phía dưới cùng.

 

Đứng từ đây bạn có thể ngắm được cả một vùng núi phía trước của Đàm Thủy - Trùng Khánh - Cao Bằng

 

Dọc theo những hành lang đi lên là sẽ đến lầu chuông Đại Hồng Chung Thiên Bảo. Đối diện với lầu chuông là nhà bia.

 

Phía sau đó là khuôn viên nơi đặt tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đang cầm tịnh bình hướng ra phía trước núi.

 

Tòa Tam Bảo ở chính giữa quần thể chùa với lối kiến trúc thuần việt mái thấp, kết cấu gỗ lim, mái đao truyền thống và những bức hoành phi câu đối bên trong được khắc theo lối thư pháp cổ truyền bằng tiếng Việt.

 

Nhìn từ góc nào ngôi Tam Bảo cũng uy nghi đẹp nhất quần thể với những mái cong nhiều tầng. Chùa thờ Tam Thế Phật và chư vị thánh thần.

 

Sau khi chiêm bái chùa chính, bạn sẽ theo hành lang ra phía sau là Nhà thờ Tổ

 

Cạnh nhà tổ bên tay phải là gian thờ Mẫu, bên tay trái là gian thờ các vị anh hùng dân tộc. Trong gian thờ Mẫu này cũng thờ cả Đức Thánh Trần. Đền thờ các anh hùng dân tộc phía trái chính giữa là tượng thờ bác Hồ với dòng chữ "Không có gì quý hơn độc lập tự do" ở bên trên. Bên cạnh tay phải là thờ Đại tướng Võ Nguyên Giáp với dòng chữ "Hộ Quốc An Dân" và phía tay trái là vị vua nổi tiếng của dân tộc Nùng - Nùng Trí Cao với dòng chữ "Càn Khôn Chính Khí".

 

Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc có hai điểm đặc biệt đó chính là sự thuần việt (ngay từ trong các ngôn từ của câu đối hoành phi đều bằng tiếng Việt) và điểm thứ hai đó chính là vị trí của nó hòa cùng với thác Bản Giốc tạo thành một vẻ đẹp hữu tình. Chính vì thế bạn đừng quên ra cuối sân phía sau vườn tượng Phật để chiêm ngưỡng ngọn thác nổi tiếng này. 

 

 Mặc dù góc nhìn không phải chính diện thác nhưng nó sẽ cho bạn thấy toàn bộ dòng chảy đổ xuống tạo thành Thác Cao và dòng chảy đổ xuống tạo thành Thác Thấp của con sông. Từ xa bạn cũng nhìn thấy những bọt nước trắng xóa bay mù trời. Đứng từ đây cả đêm lẫn ngày bạn sẽ nghe thấy tiếng thác chảy ầm ầm vang dội.

 

Cũng ở vị trí này bạn sẽ có một tầm nhìn rộng hơn về phía cổng Tam Quan của chùa trước những ngọn núi non hùng vĩ, xếp lớp mờ ảo xa tít.

 

Phía sau vườn tượng là một con đường lên núi đã được đổ xi măng thành bậc tam cấp rất dễ đi. Nếu bạn muốn khám phá hơn nữa, với những góc nhìn từ độ cao hơn bạn có thể theo lối này, đi lên phía có trồng cây Dã Hương để ngắm cảnh.

 

Tất nhiên là càng trên càng thì không gian càng thoáng. Nhưng nếu nói  trên phương diện ngắm thác Bản Giốc thì đứng từ trên cao hơn nữa, trên thực tế, cũng không khác nhiều so với đứng từ góc vườn tượng Phật. Chưa kể càng lên cao độ xa thác càng lớn nên khung cảnh thác trở nên nhỏ bé hơn.

 

Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc ban đêm sáng rực ánh đèn như chùa Ba Vàng ở Quảng Ninh, đặc biệt vào những đêm rằm. Nếu bạn lên Trùng Khánh - Cao Bằng để đi thăm thác Bản Giốc và động Ngườm Ngao, khi ghé thăm chùa Phật Tích bạn nên dành một buổi tối ghé qua đây. Trong không gian tinh khiết và tĩnh lặng của núi rừng, ngôi chùa sẽ mang lại cho bạn những cảm giác tĩnh tại và những cảm xúc khác hẳn với thời điểm ban ngày.

 

Thủ lĩnh người Nùng - Nùng Trí Cao

 

Trong chùa Phật tích Trúc Lâm có thờ vị anh hùng của người Tày, Nùng đó là ông Nùng Trí Cao. Khu vực Cao Bằng là vùng đất phần lớn là người Tày, Nùng sinh sống và có thể tìm thấy đền thờ của ông Nùng Trí Cao ở khắp mọi nơi. Về người thủ lĩnh này, xin sưu tầm bài viết dưới đây để bạn hiểu hơn về vùng đất Cao Bằng:

 

"Có một nhân vật lịch sử gây nhiều tranh cãi: chính quyền Trung Quốc ngày nay tuyên truyền rằng ông là người đã đứng lên khởi nghĩa chống lại nhà nước phong kiến; phía Việt Nam thì từng tôn vinh ông như một hình tượng đoàn kết các dân tộc thiểu số chống lại ngoại xâm; có người xem ông là một thế lực tự trị; cũng có người gọi ông là giặc loạn; lại có người coi ông như một vị anh hùng dân tộc. Ông là Nùng Trí Cao, người đã khiến quân Tống khiếp đảm, khiến danh tướng Địch Thanh phải vất vả.

 

Nùng Trí Cao là thủ lĩnh dân tộc người Choang (hay người Tráng tức người Tày, Nùng ngày nay) ở Quảng Nguyên (nay là tỉnh Cao Bằng). Ông là con của thủ lĩnh địa phương Nùng Tồn Phúc và bà A Nùng. Năm 1038, Nùng Tồn Phúc tự xưng là Chiêu Thành Hoàng Đế, đặt tên nước là Trường Sinh rồi đem quân tiến đánh các nơi.

 

Tháng 2/1039, vua Lý Thái Tông thân chinh đi đánh quân của Nùng Tồn Phúc. Nùng Tồn Phúc thua trận, phải cho quân chạy vào núi nhưng vẫn bị bắt. Vua Lý sai chém cả Nùng Tồn Phúc và con là Nùng Trí Thông. Riêng bà A Nùng và Nùng Trí Cao thì chạy thoát.

 

Vì mong muốn lập một vương quốc tự trị riêng cho người Choang nên nhiều lần Nùng Trí Cao đã nổi lên, nhưng lần nào cũng bị quân triều đình nhà Lý đánh bại.

 

Năm 1041, Nùng Trí Cao hợp quân tiến đánh châu Thảng Do (gần Quảng Nguyên), Đại Việt sử ký toàn thư có ghi chép rằng:

 

Năm ấy, Nùng Trí Cao cùng với mẹ là A Nùng từ động Lôi Hỏa lại về chiếm cứ châu Thảng Do, đổi châu ấy làm nước Đại Lịch. Vua sai tướng đi đánh, bắt sống được Trí Cao đem về Kinh sư. Vua thương tình vì cha là Tồn Phúc và anh là Trí Thông đều đã bị giết nên tha tội, cho giữ châu Quảng Nguyên như cũ, lại phụ thêm cho bốn động Lôi Hỏa, Bình, An, Bà và châu Tư Lang nữa.

 

Năm 1048, Trí Cao lại chiếm giữ phía Tây động Vật Ác (thuộc Quảng Nguyên), vua sai tướng Quách Thịnh Dật đi đánh khiến Trí Cao phải đầu hàng.

 

Sở dĩ những cuộc nổi dậy của cha con Nùng Tồn Phúc và Nùng Trí Cao ở Đại Việt đều rất nhanh chóng bị đánh bại là vì nhà Lý có một cơ quan gọi là “Khu Mật Viện” giống như cơ quan tình báo ngày nay, do những người Tày Nùng cung cấp thông tin. Do vậy nhà Lý nắm chắc mọi chi tiết về Nùng Trí Cao, khiến Đại Việt đánh thắng rất dễ dàng. Nùng Trí Cao dù ẩn thân ở đâu cũng bị phát hiện và chỉ cần một cuộc điều binh là bắt sống được. Vì tự tin nắm chắc Nùng Trí Cao trong tay nên khi bắt được, nhà Lý cũng chỉ cần răn đe và thả ra ngay mà không cần lo lắng gì.

 

Năm 1052, Nùng Trí Cao lại tự xưng là Nhân Huệ Hoàng Đế, đặt tên nước là Đại Nam. Vì không được nhà Lý công nhận, Trí Cao quyết định xin làm làm chư hầu phụ thuộc nhà Tống, mong nhà Tống phong vương và bảo hộ cho mình. Nhưng vua Tống Nhân Tông không đồng ý. Vậy là Nùng Trí Cao liền đem binh tiến sang đất Tống nhằm khẳng định sức mạnh của dân tộc Choang để buộc vua Tống phải phong hầu.

 

Được sự giúp đỡ của các thủ lĩnh người Tày, người Thái ở Quảng Tây, quân của Nùng Trí Cao chiếm được rất nhiều châu như: Hoành châu, Quý châu, Cung châu, Tầm châu, Đằng châu, Ngô châu, Khang châu, Đoan châu, Ung châu, rồi đem quân vây hãm Quảng châu.

 

Thế nhưng thành Quảng châu kiên cố, quân Tống liều chết giữ thành, nên sau 57 ngày công phá không chiếm được thành, Nùng Trí Cao ngừng công kích. Nhưng ông vẫn cho quân tiến tiếp lên phía Bắc đánh chiếm thành Thanh Viễn, Anh châu, Thiều châu.

 

Thắng trận, Nùng Trí cao cho quân tiến về phía Tây chiếm tiếp Liên Châu, Hạ Châu, Thiệu châu. Toàn thắng, quân của Nùng Trí Cao tiến lên phía Bắc đánh chiếm Cung châu và Toàn châu, đến tận dãy núi Ngũ Lĩnh.

 

Ngũ Lĩnh là dãy núi hiểm trở, rất khó để vượt núi tiến về phía Bắc, nên Nùng Trí Cao Đổi hướng tiến quân về hướng Tây Nam đánh chiếm Quế Châu, Hưng An, Liễu châu, Tấn Châu và chiếm lại Ung Châu (đã bị nhà Tống chiếm lại tháng 10/1052).

 

Lúc này Nùng Trí Cao đã chiếm được một dải đất rộng lớn. Ông ta dự định xây dựng một vương quốc hùng mạnh riêng của người Choang.

 

Cuộc tiến binh của Nùng Trí Cao khiến cả triều đình và quan lại nhà Tống lo sợ. Trong khi vua Tống đang bối rối thì vua Lý Thái Tông của Đại Cồ Việt gửi thư xin được mang quân phối hợp với nhà Tống đánh Nùng Trí Cao. Vua Tông liền đồng ý. Quân Đại Cồ Việt tiến về biên giới.

 

Tuy nhiên danh tướng nhà Tống là Địch Thanh khi nghe tin vua Tống đồng ý để Đại Cồ Việt giúp đánh Nùng Trí Cao thì trong lòng như có lửa đốt. Ông biết rằng quan hệ Tống – Việt vốn chẳng tốt đẹp, Tống – Chiêm luôn là mối họa cho Đại Cồ Việt. Tại sao Đại Cồ Việt lại muốn đem quân sang giúp?

 

Địch Thanh vội vàng khuyên can Tống Nhân Tông rằng: “Có một Nùng Trí Cao mà đất Lưỡng Quảng không khống chế được, lại phải nhờ quân ngoại quốc vào đánh giúp. Nếu có ai nhân đó mà nổi loạn, thì làm thế nào?”

 

Vua Tống tỉnh ra cho là phải, liền sai người báo quân Đại Cồ Việt (lúc đó đã gần đến biên giới) là không cần giúp đỡ. Đồng thời Vua sai tướng Dư Tĩnh và Tôn Miện đánh Nùng Trí Cao. Tuy nhiên quân Tống đánh mãi vẫn không sao thắng được.

 

Thấy thanh thế quân của mình ngày càng mạnh, Nùng Trí Cao dâng biểu xin vua Tống phong cho mình là Tiết độ sứ ở Ung châu và Quý châu. Vua Tống toan đồng ý, nhưng Địch Thanh lại xin dẫn quân đi đánh.

 

Đầu năm 1053, Địch Thanh hội cùng cánh quân của Dư Tĩnh và Tôn Miện, đóng ở Tân châu (Quảng Tây ngày nay).

 

Địch Thanh quyết định dùng “Nhẫn” để đánh Nùng Trí Cao. Ông lệnh cho các tướng không được xuất quân, ai trái lại sẽ bị xử theo quân lệnh. Tướng Trần Thự trái lệnh đem quân đi đánh và bị thua trận, Địch Thanh bèn đem xử trảm, đồng thời cho quân nghỉ ngơi 10 ngày.

 

Quân do thám báo cho Nùng Trí Cao biết tình hình quân Tống. Trí Cao cho rằng quân Tống thua nhiều trận, không dám giao chiến nữa mới nghỉ ngơi 10 ngày, nên chủ quan khinh địch, thành trì không còn canh phóng cẩn mật như trước nữa.

 

Lúc này Địch Thanh bất ngờ điều binh tiến đánh. Quân của Nùng Trí Cao hoàn toàn bất ngờ và bị tan vỡ, nhiều tướng bị tử trận. Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép rằng: “Tướng tâm phúc của Cao là Hoàng Sư Mật cùng với thủ hạ 57 người chết tại trận. Quân Tống đuổi theo giết hơn 2200 người. Trí Cao đốt thành ban đêm trốn đi.”

 

Nùng Trí Cao cùng gia quyến chạy đến Đặc Ma, nay là thị trấn Quảng Nam, gần ranh giới Quảng Tây và Vân Nam, cách phía bắc thị xã Đồng Văn, Hà Giang của Việt Nam khoảng 100 km.

 

Năm 1055, quân Tống tiến đánh Đặc Ma, mẹ và các con của Nùng Trí Cao bị bắt và bị xử tử. Về số phận của Nùng Trí Cao thì Tống sử có ghi chép rằng: “Không biết rõ về cái chết của Nùng Trí Cao”.

 

Đại Việt sử ký toàn thư có ghi chép rằng: Tháng 10/1053, Nùng Trí Cao cầu cứu Đại Cồ Việt. Vua Lý Thái Tông cho quân đi tiếp ứng, nhưng quân Đại Cồ Việt chưa đến nơi thì quân Trí Cao đã bị Địch Thanh đánh bại. Ông phải chạy trốn sang nước Đại Lý. Đại Cồ Việt cũng rút quân về.

 

Sử Việt cũng có ghi chép rằng: Năm 1055 quân Tống tiến đánh Đặc Ma bắt được mẹ Trí Cao là A Nùng, em Trí Cao là Trí Quang, con là Kế Phong. Quân cảm tử của Tống bí mật tiến vào Đại Lý truy tìm Nùng Trí Cao, vì không muốn gây hấn với nhà Tống nên Đại Lý đã chủ động bắt Nùng Trí Cao rồi dâng thủ cấp cho nhà Tống (Tuy nhiên theo tài liệu của Trung Quốc thì lại ghi là không rõ về cái chết của Nùng Chí