Theo tuyến xe bus 03: Núi Thiên Ấn - Chứng tích Sơn Mỹ

03.11.2018

Nằm trên tuyến Thành phố Quảng Ngãi - Mỹ Khê, theo hành trình của xe bus số 03, bạn có thể đến thăm quan Núi Thiên Ấn và khu chứng tích Sơn Mỹ nổi tiếng.

 

Located on the route Quang Ngai - My Khe, follow the journey of bus number 03, you can visit the famous Thien An Mountain and Son My Evidential.

 

Lộ trình của tuyến xe bus này (tuyến số 03) sẽ đi qua bến xe Quảng Ngãi - Qua cầu Trà Khúc cũ - QL24B (Qua Núi Thiên Ấn, Qua Chợ Tịnh Châu, qua Đền Thờ Trương Định, qua Khu chứng tích Sơn Mỹ) - Qua đường ven bãi tắm Mỹ Khê - QL24B (Cảng Tịnh Hoà) - Cảng Sa Kỳ, vì vậy rất tiện đường cho bạn dừng chân ở các điểm du lịch.

 

1- Núi Thiên Ấn

 

Núi Thiên Ấn là điểm gần thành phố Quảng Ngãi, chỉ cách trung tâm khoảng 5km. Ngọn núi này cao 106 mét được cho là có hình giống chiếc ấn, bốn phía sườn có hình thang cân nên người xưa gọi là "Thiên Ấn Niêm Hà" tức là chiếc ấn của trời cao niêm cạnh dòng sông xanh.

 

Xe bus chạy trên đường QL24B bạn có thể xin xuống điểm nào mà bạn muốn. Cách đường rẽ lên núi chỉ khoảng 10 mét có một điểm đón xe về trong thành phố. Đỉnh núi Thiên Ấn có chùa Thiên Ấn là nơi rất nhiều người dân Quảng Ngãi đến lễ phật dâng hương.

 

Con đường từ dưới chân núi lên đến đỉnh không hề ngắn, phải tính bằng km đường dốc. Vì vậy bạn có thể nhờ xe ôm ở hàng nước hoặc nhà dân dưới chân núi hoặc chở lên với chi phí 30.000 đồng cho chiều lên và 20.000 đồng cho chiều xuống. Xe sẽ chở bạn đến phía trước cổng chùa. Khi bạn xuống núi, bạn có thể nhờ xe ôm ở các hàng quán trên chùa, không nhất thiết phải chờ xe dưới núi lên đón.

1/3

Phía trước lối vào chùa Thiên Ấn là một con đường với biển chỉ ra phía mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng. Bạn có thể đến đây thắp hương cho cụ, một danh nhân của Việt Nam.

 

Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một nhà yêu nước đã cùng các sĩ phu khác như cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp lãnh đạo phong trào Duy Tân. Là một người có tài có đức nên được nhân dân ca tụng và gọi tên gần gũi là cụ Huỳnh.

 

Cụ Huỳnh bị giặc bắt và đày ra Côn Đảo suốt 13 năm. Sau năm 1945, bác Hồ đã mời cụ ra làm việc và giữ nhiều chức vụ quan trọng như Bộ trưởng Bộ Nội Vụ, quyền Chủ tịch nước, chủ tịch hội Liên hiệp Quốc Dân Việt Nam. 

 

Cuối năm 1946, cụ là đặc phái viên của chính phủ vào cơ quan Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 21 tháng 5 năm 1947, cụ lâm bệnh nặng và mất tại thôn Phú Bình, xã Hành Phong, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Làm theo tâm nguyện của cụ, nhân dân đã an táng cụ trên đỉnh núi Thiên Ấn.

 

Từ mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng, bạn đi vòng lại theo đường xi măng phía trong là sẽ trở về cổng chùa. Chùa Thiên Ấn vào mùa xuân, mùa của lễ hội, cũng như những ngôi chùa nổi tiếng khác đông kín người đi lễ. Hết hội, chùa vắng vẻ hơn chỉ lác đác lữ khách đến thăm. 

 

Cổng tam quan của chùa Thiên Ấn khá uy nghi. Ngôi chùa này có lịch sử rất lâu đời, được xây dựng từ năm 1694 và hoàn thành cuối năm 1695 đời Lê Huy Tông (chúa Nguyễn Phúc Chu đàng trong). Lúc đầu chùa chỉ là một thảo am tĩnh mịch, sau được trùng tu mở rộng thu hút được nhiều tăng ni phật tử và trở nên nổi tiếng.

 

Ngày thường cổng tam quan không mở, bạn đi qua cổng nhỏ bên cạnh để vào phía trong. Sân chùa khá rộng và được đặt tượng phật tổ Như Lai và các La Hán. 

 

Chùa Thiên Ấn được chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho biển ngạch "Sắc tứ Thiên Ấn Tự" vào năm 1716. Cũng như mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng, chùa nằm quay mặt về phía nam nơi có dòng sông Trà Khúc chảy qua.

1/3

Con đường dẫn đến chính điện bạn sẽ đi qua khu vườn với những mộ tháp bên trong, những bức tượng Quan Thế Âm được các phật tử cúng dường, lầu chuông, lầu trống. Chùa không đồ sộ nguy nga nhưng thâm niên, u tịch và mát mẻ. 

 

Thiên Ấn Tự có tổ khai sơn chùa là Thiền sư Pháp Hóa (1670 - 1754), tục danh Lê Diệt, hiệu Minh Hải Phật Bảo, gốc người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, trụ trì tại tổ đình 41 năm, viên tịch giờ ngọ ngày 17 tháng 01 năm Giáp Tuất, thọ 84 tuổi, thuộc dòng thiền Lâm Tế.

 

Trải qua hơn 300 năm chùa đã có nhiều đời sư trụ trì, trong đó có 6 vị được suy tôn là sư tổ, gọi chung là lục tổ.

 

Chùa Thiên Ấn cũng nổi tiếng bởi một giếng cổ được đào rất sâu với và mất nhiều năm đào để tìm nguồn nước. Người ta vẫn kể rằng giếng này khi đào xuống chỉ gặp toàn đá, hết lớp này đến lớp khác. Cho đến khi phá được lớp đá mở được mạch nước, giếng đầy thì người ta cũng không còn gặp lại nhà sư đã đào giếng nữa. Vì vậy dân gian vẫn còn có những câu thơ: "Ông thầy đào giếng trên non. Đến khi có nước không còn tăm hơi".

 

Qua rất nhiều năm giếng nước vẫn còn đó nguyên vẹn, người ta cũng thêm các câu chuyện về khả năng chữa bệnh của nguồn nước trong giếng cho thêm phần kỳ bí. Bạn có thể vào tham quan trong sân giếng, nhưng giếng đã được lắp rào chắn khá vững chắc trên bề mặt.

 

Từ giếng cổ bạn xuống ngôi bảo tháp phía dưới là nơi lưu giữ bảo thân của 6 vị thiền sư nổi tiếng của chùa, những người có công gìn giữ, mở rộng ngôi chùa cũng như mang giáo lí từ bì hỷ xả của Phật Pháp đến các tín đồ gần xa.

1/5

Do khuân viên của chùa rất rộng lại nhiều cây cối um tùm nên nếu bạn không để ý bạn sẽ không biết ngoài chánh điện phía sau còn nhiều các công trình khác. 

 

Người ta nói rằng, núi Thiên Ấn là một ngọn núi thiêng của Quảng Ngãi. Nếu đứng từ trên núi có thể nhìn bao quát cả một khung cảnh thiên nhiên núi non thơ mộng.

 

Để có thể nhìn được phong cảnh như lời đồn, bạn đi qua gốc cây cổ thụ nơi đặt một bức tượng Phật Tổ đang ngồi thiền màu vàng. 

 

Sau đó đi thẳng về phía trước nơi có bức tượng phật Di Lặc bằng đá trắng. Từ đây bạn rẽ sang tay phải hướng về phía nơi lưu giữ các phần mộ ở cuối góc vườn. 

 

Dưới một gốc cây cổ thụ nơi đặt một bức tượng phật, bạn sẽ thấy một chiếc cổng nhỏ dẫn vào trong khu phần mộ không tên. 

 

Dọc theo lối đó bạn đi thẳng xuống cuối phía tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát. Ở đây, bạn làm lễ xong bạn sẽ được ngắm toàn cảnh của Quảng Ngãi từ trên núi Thiên Ấn.

1/3

Hướng nhìn rõ nhất là hướng sông Trà Khúc đổ ra biển. Mặc dù vậy do biển ở khá xa nên trong những ngày nhiều sương mù tầm nhìn sẽ hạn chế. Bạn cũng nhìn thấy khung cảnh của những ngọn núi kế bên với những ngôi nhà nằm dưới chân núi rất đẹp. Còn hướng nhìn về thành phố Đà Nẵng do khuất tầm che của cây cối nên sẽ chỉ nhìn thấy một phần, không rõ nét bằng tầm nhìn trên con đường lên núi.

 

2- Chứng tích Sơn Mỹ

 

Chứng tích Sơn Mỹ là khu di tích về vụ thảm sát Mỹ Lai năm 1968, một cuộc thảm sát cũng là một tội ác man rợ trong chiến tranh mà khó ai có thể hình dung được sự vô nhân tính của nó nhưng thực tế nó đã xảy ra trên đất Quảng Ngãi.

 

Khu chứng tích Sơn Mỹ nằm ngay trên mặt đường quốc lộ 24B, nơi xe bus 03 vẫn đi qua hàng ngày, thuộc vào địa phận của thôn Tư Cung, xã Tịnh Khê, TP Quảng Ngãi. 

 

Khu di tích rất rộng, nhưng để hiểu tường tận về những gì đã xảy ra bạn có thể vào nhà trưng bày hiện vật nơi còn lưu giữ rất nhiều tài liệu, hình ảnh kể về cuộc thảm sát này. 

 

Vụ thảm sát xảy ra vào sáng ngày 16/3/1968 khi quân đội Mỹ truy quét lực lượng Việt Cộng tại Mỹ Lai (Sơn Mỹ). Binh lính dồn dân chúng, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già, hãm hiếp phụ nữ, trẻ em, rồi tiến hành xả súng giết hại họ, cùng với việc đốt cháy nhà cửa và tiêu diệt vật nuôi như trâu, bò, gà, lợn.

 

Tổng số 504 dân thường đã bị giết cho đến khi một nhóm lính Mỹ từ một máy bay trực thăng quân sự của Hoa Kỳ can thiệp.  

 

Người trực tiếp chỉ huy là đại tá Oran K.Henderson và người trực tiếp ra lệnh tàn sát ở Sơn Mỹ là đại úy Ernest Medina. Nguồn gốc của sự kiện này là trong thời gian diễn ra Sự kiện Tết Mậu Thân (tháng 1 năm 1968), Tiểu đoàn 48 của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (thường được quân đội Hoa Kỳ gọi là Việt Cộng) đã tiến hành một số cuộc tấn công trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Tình báo Mỹ cho rằng sau Sự kiện Tết Mậu Thân, Tiểu đoàn 48 đã rút lui về ẩn náu tại địa bàn làng Sơn Mỹ thuộc tỉnh này, cụ thể là các thôn Mỹ Lai 1, 2, 3 và 4. Lục quân Hoa Kỳ quyết định tổ chức một cuộc tấn công lớn vào các làng bị nghi ngờ này.

 

Vào hôm trước của cuộc tấn công, tại cuộc họp chiến thuật của Đại đội Charlie, đại úy Ernest Medina thông báo cho lính của mình rằng gần như mọi dân làng sẽ ra chợ vào lúc 7 giờ sáng, tất cả những ai còn ở lại đều là lính Việt Cộng hoặc người giúp đỡ Việt Cộng. Một số binh sĩ của đại đội Charlie sau này đã khai rằng mệnh lệnh của Medina theo như họ hiểu là giết toàn bộ du kích, lính Việt Cộng và những ai "khả nghi" (bao gồm cả phụ nữ, trẻ em), đốt trụi làng và đầu độc các giếng nước.

 

Vào tối ngày 15 tháng 3 năm 1968, chỉ huy đại đội Charlie, đại úy Ernest Medina đã ra lệnh cho quân lính của mình rằng ngày hôm sau bọn họ sẽ triển khai theo kế hoạch đã định nhắm vào một địa điểm gọi là "Pinkville".

 

Binh sĩ Harry Stanley đã kể lại rằng: "Medina ra lệnh cho chúng tôi giết hết thảy mọi thứ trong làng". Salvatore LaMartina, một lính bộ binh lúc đó, cũng nhớ lại gần như nguyên văn lời của Medina: "Hãy giết sạch tất cả những gì còn sống". Trong tâm trí của sĩ quan pháo binh James Flynn vẫn còn bị ám ảnh câu hỏi của đồng đội: "Chẳng nhẽ chúng ta cũng giết cả phụ nữ lẫn trẻ em sao?" và Medina trả lời ngắn gọn: "Hễ thấy gì động đậy là giết"

 

Sáng ngày 16 tháng 3, sau một đợt công kích dọn chỗ ngắn bằng pháo và súng máy bắn từ trực thăng, Đại đội Charlie đổ bộ vào làng Sơn Mỹ. Các binh sĩ của đơn vị này không tìm thấy bất cứ lính Việt Cộng nào trong làng, thay vào đó chỉ có những người dân thường, phần lớn là phụ nữ và trẻ em, đang cố gắng tìm chỗ ẩn nấp trước cuộc càn quét của quân đội Mỹ. Nhiều người trong làng vẫn còn đang nấu cơm sáng. Tuy nhiên, binh lính đã răm rắp tuân lệnh đại đội trưởng Medina. Cả đại đội bắt đầu giết chóc, "tàn sát bất cứ thứ gì động đậy"

 

Người dân thường đã bị giết bằng các loạt súng, bằng lưỡi lê hoặc bằng lựu đạn với mức độ tàn bạo mỗi lúc một cao. Lính Mỹ quăng lựu đạn vào nhà mà không thèm bận tâm xem trong nhà có gì. Một sĩ quan túm tóc một người đàn bà và dùng súng ngắn bắn thẳng vào người đó. Một phụ nữa vừa ôm con nhỏ bước ra khỏi nhà liền bị bắn chết ngay lập tức, khủng khiếp hơn, một lính Mỹ liền dùng khẩu súng trường tự động M16 xả đạn bắn tung xác đứa trẻ sơ sinh khi nó vừa rơi xuống đất. Lính Mỹ giết tất cả những người và gia súc còn sống nhưng không may bị họ tìm được. Ngay cả những người giơ tay đầu hàng từ chỗ ẩn nấp hoặc những tiếng rên cất lên từ các đống xác người cũng bị những lính Mỹ này "giải quyết". Vì Đại đội Charlie không gặp bất cứ sự kháng cự nào của "quân địch", Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn bộ binh số 3 bắt đầu chuyển hướng càn quét sang các xóm của thôn Mỹ Khê 4 và giết khoảng 90 dân thường. Có một binh sĩ Mỹ chết và 7 người khác bị thương vì mìn và bẫy cá nhân. Trong vòng 2 ngày tiếp theo, các đơn vị lính Mỹ tiếp tục việc đốt phá các làng xóm và tra tấn những người bị bắt. Các lính Mỹ nếu không tham gia vào các tội ác thì cũng không phản đối hoặc báo cáo lại nó với cấp trên.

 

Tại thôn Cổ Lũy, vừa bước ra khỏi máy bay, một trung đội đã xông vào xóm Mỹ Hội. Lính Mỹ chia thành nhiều tốp, sục đến từng nhà, tìm đến từng hầm. Nhà bị sục đầu tiên là nhà ông Lệ lúc trong hầm nhà này có 15 người đang trú ẩn. Thấy lính Mỹ kéo đến, 8 người trong hầm bước ra, liền bị xả súng bắn chết tất cả, xác đè lên nhau. Lính Mỹ tiếp tục ném mìn vào hầm, giết nốt những người còn lại Một tốp lính Mỹ khác kéo vào nhà chị Trinh ở cạnh. Con chị Trinh là cháu Đức 8 tuổi từ trong hầm chạy ra liền bị bắn chết khi miệng còn ngậm đầy cơm. Giết xong cháu bé, tốp lính Mỹ đặt mìn giật tung hầm giết chết cả thảy 7 người gồm mẹ con chị Trinh và ba mẹ con chị Hòa, không một ai được toàn thây. Xác người dân bị giết bên cạnh ngôi nhà bị đốt cháy. Chị Võ Thị Mại vừa mới sinh hôm trước, sức yếu không kịp xuống hầm trú ẩn, đã bị lính Mỹ lột hết quần áo rồi hãm hiếp cho đến chết. Đứa bé mới sinh và hai con chị đang núp trong hầm cũng bị lính Mỹ bắn chết. Chị Ngôn có mang đến gần ngày sinh cũng bị hãm hiếp, hiếp xong lính Mỹ dùng lưỡi lê đâm thủng bụng, bào thai lòi hai chân ra ngoài. Ba đứa con của chị cũng bị lính Mỹ bắn chết tất cả. Chị Võ Thị Phụ bị bắn chết đang lúc cho con bú, lính Mỹ chất cỏ khô lên cả hai mẹ con rồi châm lửa đốt. Thi thể hai mẹ con bị lửa thiêu co quắp cả chân tay, bộ xương của cháu bé vẫn còn nằm nguyên trên xác mẹ. Hai chị Ngô Thị Mùi, Ngô Thị Một bị lính Mỹ lôi ra khỏi hầm, thay nhau hãm hiếp, hiếp xong lính Mỹ xô hai chị em vào lại trong hầm, giật mìn giết luôn cả hai chị em cùng 4 đứa con nhỏ của chị Mùi trong đó. Gia đình ông Võ Mãi có bốn người bị giết hết. Hầm nhà ông Võ Toan có sáu người, bị lính Mỹ ném lựu đạn vào giết chết 4 người. Hầm nhà bà Nguyễn Thị Thi bị đánh sập, có 2 bà già và 6 em nhỏ bị chết, chỉ sót lại một cháu bé 10 tuổi bị thương nặng. Trong số 16 gia đình khác trong xóm có 7 cụ già, 12 phụ nữ, 17 trẻ em dưới 15 tuổi đều bị bắn chết. Nhà cửa trong xóm đều bị thiêu hủy. Cả thôn Cổ Lũy có 97 người bị tàn sát, phần lớn là người già, phụ nữ và trẻ em.

 

Chuẩn úy Hugh Thompson, Jr., phi công trực thăng 24 tuổi thuộc đơn vị trinh sát trên không, ngay khi bay qua làng đã chứng kiến cảnh tượng khủng khiếp: Vô số xác người chết, tất cả đều chỉ là trẻ con, phụ nữ và người già, không hề có dấu hiệu của người thuộc độ tuổi tòng quân hay vũ khí ở bất cứ đâu. Đội bay của Thompson tận mắt nhìn thấy đại úy Medina đá và bắn thẳng vào đầu một phụ nữ không có vũ khí (Medina sau này tuyên bố người phụ nữ có mang một quả lựu đạn). Sau khi chứng kiến những cảnh kinh hoàng này, đội bay Thompson cố gắng thực hiện các cuộc điện đàm để cứu những người bị thương. Chiếc trực thăng của họ hạ cánh xuống một cái mương đầy xác người, trong đó vẫn còn người cử động. Thompson đề nghị một sĩ quan cứu người đó ra khỏi cái mương, viên sĩ quan này trả lời anh ta sẽ "giúp họ thoát khỏi nỗi khốn khổ". Cho rằng đây là một câu đùa, chiếc trực thăng của Thompson cất cánh, ngay lúc đó một người của phi đội thốt lên "Chúa ơi, anh ta đang xả súng vào cái mương". Thompson sau đó nhìn thấy một nhóm dân thường (lại chỉ bao gồm phụ nữ, trẻ em và người già) trong một căn hầm tạm đang bị lính Mỹ tiếp cận. Chiếc trực thăng của phi đội Thompson hạ cánh và cứu được khoảng từ 12 đến 16 người trong căn hầm. Phi đội Thompson sau đó còn cứu được một đứa bé toàn thân đầy máu nhưng vẫn sống sót từ trong cái mương đầy xác người. Thompson sau đó đã báo cáo lại những gì anh nhìn thấy cho chỉ huy của mình, thiếu tá Watke, trong báo cáo Thompson đã dùng những cụm từ như "murder" (giết người) và "needless and unnecessary killings" (sát hại vô cớ và không cần thiết). Báo cáo của Thompson được các phi công và phi đội khác xác nhận.

 

Do hoàn cảnh hỗn loạn khi vụ thảm sát xảy ra và việc Lục quân Hoa Kỳ không thực hiện thống kê chính xác số nạn nhân, người ta không biết được hoàn toàn chính xác số dân thường bị lính Mỹ giết hại tại Mỹ Lai. Con số ghi lại tại Khu chứng tích Sơn Mỹ là 504 dân thường từ 1 tuổi đến 82 tuổi, trong đó có: 182 phụ nữ (có 17 người đang mang thai), 173 trẻ em (có 56 em dưới 5 tháng tuổi), 60 cụ già trên 60 tuổi, 89 trung niên. Con số do phía Mỹ đưa ra thấp hơn, 347 nạn nhân. Có 247 căn nhà bị lính Mỹ thiêu hủy, hàng ngàn trâu bò, gia súc cũng bị giết.

 

Những báo cáo đầu tiên của các đơn vị lính Mỹ đã tuyên bố rằng "128 Việt Cộng và 22 dân thường" bị giết tại làng sau "cuộc đọ súng ác liệt". Theo báo Stars and Stripes của Lục quân Hoa Kỳ vào thời điểm đó đưa tin thì "Bộ binh Hoa Kỳ đã giết 128 tên Cộng sản sau một trận đánh đẫm máu kéo dài 1 ngày mà không bị thương vong một binh sĩ nào". Trong bức điện mừng, Tướng William Westmoreland, tư lệnh chiến trường Việt Nam đã tán dương "cú giáng mạnh" này lên kẻ thù. Thuộc hạ của ông, tư lệnh Sư đoàn Americal 23 bộ binh còn viết thư ca ngợi "cuộc đọ súng ác liệt" của Đại đội C. Những báo cáo sau này của phía Việt Nam thì tuyên bố rằng "toàn bộ số người dân bị lính Mỹ giết tại Mỹ Lai đều là dân thường". Cuộc điều tra đầu tiên về chiến dịch Mỹ Lai được thiếu tướng George H. Young giao cho đại tá Henderson, sĩ quan chỉ huy của Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 11 phụ trách. Henderson đã thẩm vấn một số binh lính tham gia vụ thảm sát, sau đó đưa ra một báo cáo vào cuối tháng 4 ghi nhận rằng khoảng 22 dân thường đã bị giết hại một cách không cố ý trong chiến dịch. Quân đội Mỹ lúc này vẫn coi sự kiện ở Mỹ Lai là một chiến thắng quân sự khi lính Mỹ đã tiêu diệt được 128 lính đối phương.

 

Sáu tháng sau, Tom Glen, một binh sĩ 21 tuổi của Lữ đoàn 11, đã viết một lá thư cho tướng Creighton Abrams, tổng chỉ huy mới của các lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam. Trong lá thư Glen buộc tội Sư đoàn Americal, tức Sư đoàn bộ binh số 23 (và toàn bộ các đơn vị lính Mỹ khác) liên tục sử dụng bạo lực chống lại dân thường Việt Nam, lá thư không trực tiếp nhắc tới vụ Mỹ Lai vì Glen không biết nhiều về vụ tàn sát. Một trong các sĩ quan được giao phân tích lá thư là Colin Powell. Trong báo cáo phân tích, Powell viết: "Điều phản bác lại những gì miêu tả trong bức thư là sự thật rằng quan hệ giữa binh sĩ Hoa Kỳ và người dân Việt Nam là tuyệt vời", một vài nhà quan sát cho rằng cách thức Powell xử lý lá thư đồng nghĩa với việc rửa sạch sự tàn bạo của quân đội Hoa Kỳ ở Mỹ Lai. Bất chấp mọi thông cáo, bản tin trên đài phát thanh và những bản báo cáo bằng tiếng Anh được phía quân Giải phóng đưa ra, trong vòng hơn một năm liền, thế giới vẫn chỉ biết tới Mỹ Lai như một "trận đánh thắng lợi" của lính Mỹ.

 

Sự thật rất có thể sẽ bị vùi lấp mãi mãi nếu như không có cựu chiến binh Mỹ Ronald Ridenhour tiết lộ. Tận mắt thấy những dân thường bị sát hại ở khắp mọi nơi ở Việt Nam, người lính 22 tuổi Ridenhour tuy không nằm trong số những người lính tham gia trực tiếp vào vụ Mỹ Lai, nhưng anh đã nghe chính những người lính tham gia vào vụ việc Pinkville ngày hôm đó kể cho nghe về vụ thảm sát. Không nao núng, người lính trẻ Ridenhour đã có một hành động chưa từng có, đó là cẩn thận thu thập lời khai từ nhiều người Mỹ đã chứng kiến vụ việc. Rồi sau một năm nghĩa vụ quân sự, Ridenhour trở về Mỹ và quyết tâm theo đuổi đến cùng để đưa sự việc ra ánh sáng công luận. Vụ thảm sát Mỹ Lai có lẽ sẽ tiếp tục bị che giấu nếu không có bức thư thứ hai của Ridenhour. Ridenhour, một thành viên cũ của Đại đội Charlie và biết về vụ thảm sát qua lời kể của đồng đội, vào tháng 3 năm 1969 đã gửi một lá thư trình bày chi tiết sự kiện Mỹ Lai cho tổng thống Richard M. Nixon, Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Bộ Tham mưu Liên quân và một số thành viên của Quốc hội Hoa Kỳ. Phần lớn những người được nhận thư đã bỏ qua tầm quan trọng của nó. Độc lập với chính phủ, nhà báo Seymour Hersh đã tiến hành cuộc điều tra về vụ Mỹ Lai. Ngày 12 tháng 11 năm 1969 vụ việc Mỹ Lai vỡ lở. Ngày 20 tháng 11, các tạp chí lớn như Time, Life và Newsweek đồng loạt đăng lên trang bìa vụ thảm sát Mỹ Lai, đài truyền hình CBS cũng phát sóng cuộc phỏng vấn với Paul Meadlo. Tờ Plain Dealer ở Cleveland còn mạnh dạn hơn khi đăng các bức ảnh mô tả những dân thường bị giết trong vụ thảm sát. Tháng 11 năm 1969, tướng William R. Peers được chỉ định điều tra về sự kiện Mỹ Lai và các hành động che giấu của Lục quân Hoa Kỳ. Bản báo cáo cuối cùng, bản báo cáo Peers (Peers Report), được công bố tháng 3 năm 1970, đã chỉ trích mạnh mẽ việc các sĩ quan cấp cao che giấu vụ việc cũng như những hành động của các sĩ quan thuộc Đại đội Charlie tại làng Mỹ Lai 4.