Chùa Hang núi Sam

Chùa Hang là tên gọi dân gian của chùa Phước Điền, nằm sau núi Sam, cách cụm di tích chùa Tây An, miếu Bà Chúa Xứ, lăng Thoại Ngọc Hầu khoảng hơn 1km. Chùa có lịch sử hơn 100 năm tuổi, giữ một vẻ đẹp thanh tịnh nhưng vẫn được nhiều người ghé thăm.


Nguyên thủy của chùa này do một người nữ tu tên là Lê Thị Thơ (1818), quê gốc ở Chợ Lớn, khi trẻ vốn là thợ may nên người ta gọi là bà Thợ. Sau khi bà lấy chồng gặp cảnh đời ngang trái, bà từ bỏ cuộc sống đời thường đến núi Sam vào chùa Tây An quy y với pháp danh Diệu Thiện. Tu ở chùa Tây An một thời gian do nơi này có nhiều người lui tới và nhiều thành phần bị chính quyền bấy giờ theo dõi nên bà đi về hướng Tây của núi và gặp một cái hang sâu yên tĩnh, vắng người, rậm rạp cây cối nên ở lại dựng am tu hành. 


Chùa Hang nằm trên lưng chừng núi và khá rộng. Để viếng cảnh lễ phật trong chùa bạn phải mất vài tiếng đồng hồ mới có thể đi hết. 


 Trên những bậc thang lên chùa, ngay trước cổng điện thờ phật Địa Tạng, điểm lễ đầu tiên trên hành trình, bạn sẽ nhìn thấy bản sơ đồ của chùa với rất nhiều công trình hạng mục (44 điểm). Những công trình này đều được xây dựng về sau này trên di tích cũ và bạn cần lưu ý là phần gốc chùa hang (là nằm trong hang núi) ở số 22, còn đường hang rất dài từ số 23 đến số 28 ở phía tay phải bức bản đồ. Gần như phía tay trái bức ảnh nơi tăng viện và thiền đường là nơi tu hành bạn sẽ được vào.

Cửa điện Địa Tạng Bồ Tát được thiết kế tròn khá lạ mắt. Bên trong gian điện nhỏ nhưng uy nghiêm, phía hành lang của điện là nơi nghỉ chân cho khách hành hương sắp lễ.


Chùa nằm ở độ cao khoảng 300 mét nhưng đường lên lát đá, các công trình đều rất đồng bộ, sạch sẽ, tinh xảo trong một gam màu nâu tĩnh mịch. 


Trước chùa là một khoảng sân rộng với bức tượng pháp quan bằng đá trắng. Phía ngoài là tượng quan Thế Âm Bồ Tát và bên trên hồ sen là một tượng phật Di Lặc.


Khoảng sân đó cũng giống như nhiều điểm trên các tòa bửu điện của chùa Hang sẽ cho bạn một không gian xanh màu lúa trải rộng sang tận phía bên kia biên giới sau kênh Vĩnh Tế. 


Người khởi tâm xây dựng chùa để bồi đắp lên như ngày nay là ông Phán Thông (Nguyễn Ngọc Cang) và nhân dân quanh vùng đã quyên góp để lát nền, kéo gỗ, lớp ngói tạo dần nên chùa mới. Năm 1899 bà Thợ qua đời, thọ 81 tuổi. Năm 1937 người tiến hành trùng tu lần thứ hai là hòa thượng Thích Huệ Thiện (1904-1990) và sau đó là những hòa thượng đời sau như hòa thượng Thích Thiện Chơn vẫn tiếp tục mở rộng chùa hơn.


Đi hết hành lang dẫn lên núi là bạn đã đến cửa Phật.