Lăng Thoại Ngọc Hầu

Lăng Thoại Ngọc Hầu còn gọi là Sơn Lăng, trước thuộc xã Vĩnh Tế, nay thuộc phường Núi Sam, thành Phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đây là một danh thắng, một công trình kiến trúc cổ tiêu biểu dưới thời phong kiến, và là một di tích lịch sử cấp quốc gia Việt Nam (xếp hạng năm 1997).


Cổng lăng Thoại Ngọc Hầu nằm đối diện bên kia đường chếch lên phía trên so với cổng của Miếu Bà Chúa Xứ. Trong các lễ hội ở Miếu Bà vào tháng tư âm lịch vẫn có lễ rước bài vị từ lăng Thoại Ngọc Hầu sang miếu Bà và khi kết thúc vào Lễ Chính Tế (chiều ngày cuối cùng của lễ tức ngày 27/4 âm) người ta lại rước bài vị từ Miếu Bà trở lại lăng.


Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829) đã chọn nơi này làm nơi yên nghỉ cho mình. Ông vốn là một tướng lĩnh thân cận của Nguyễn Ánh (vua Gia Long) có vợ cả tên là Châu Thị Vĩnh Tế (Châu Thị Tế) mất năm 1826 và người vợ thứ hai tên là Trương Thị Miệt (mất năm 1821) cũng đều được đặt mộ phần ở đây.


Từ cổng chính bạn đi thẳng vào bên trong, trước sân là ba phần mộ nằm giữa vuông lăng. Mộ Thoại Ngọc Hầu nằm giữa hai bên là mộ bà chính thất Châu Thị Tế và bà thứ là Trương Thị Miệt được xây lùi lại một chút để tỏ sự kính nhường. Các ngôi mộ đều có bình phong phía trước với nhiều chữ Hán, chân mộ đều có bi ký. Phía sau là những bậc thang dẫn lên đền thờ ông Thoại.

Khi ông Thoại Ngọc Hầu và bà chính thất còn sống, tên ông bà đã được đặt cho núi (Thoại Sơn, Vĩnh Tế Sơn), đặt cho sông (Thoại Hà, Vĩnh Tế Hà) và còn được khắc lên Cửu đỉnh - bảo vật trấn quốc của triều Nguyễn đặt trong hoàng thành Huế ngay trước miếu thờ trong đại nội.

Sau này tên ông, bà còn được dùng đặt cho các đơn vị hành chính (H.Thoại Sơn, thôn Thoại Sơn, xã Vĩnh Tế), đường phố (đường Châu Thị Tế ngay sau Miếu Bà Chúa Xứ) tên khu du lịch (Hồ ông Thoại), khu dân cư, trường học và các cây cầu.


Năm 2009, khi tu bổ lăng mộ, người ta đã phát hiện ra một lằn phui sụp xuống và khi khai quật đã thu được hơn 500 hiện vật và hàng trăm tàn tích đồ gỗ, đồ vải, đồ kim loại... rất phong phú và đa dạng, gồm nhiều chất liệu: vàng, bạc, đồng, đồng tráng men (pháp lam), sắt, antimony, gỗ, gốm sứ, thủy tinh, đá, ngà, xương, răng, nanh hổ, vỏ ốc...; cổ vật thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 19 thuộc nhiều nước: VN, Trung Quốc, Xiêm La (Thái Lan), Chân lạp (Campuchia), Bồ Đào Nha, Pháp, Tây Ban Nha ... Với số lượng hiện vật quý giá như trên, người ta đánh giá rằng những đồ tùy táng của các quan lại đại thần phong kiến VN, thậm chí của cả vua nữa, chưa từng có nhân vật nào vừa có công lao, tài đức mà còn để lại một khối lượng di vật to lớn, quý giá và phong phú như vậy.


Đền thờ ông Thoại Ngọc Hầu nằm ở phía sau cùng, tựa lưng vào núi Sam, được dựng lên về sau. Trong đền bày trí rất đẹp với tượng bán thân của ông Thoại Ngọc Hầu ở chính giữa rất trang nghiêm.


Thoại Ngọc Hầu (Nguyễn Văn Thoại) sinh ra vào lúc Trịnh Nguyễn phân tranh. Năm 16 tuổi ông đầu quân Nguyễn ở Ba Giồng và sau nhiều công lao với nhà Nguyễn ông đã được phong đến chức Khâm Sai Thượng đạo Bình Tây tướng quân vào năm 1800, nhưng đến năm 1801 thì bị giáng cấp xuống chức Cai đội quản suất Thanh Châu đạo vì tự ý bỏ về Nam mà không đợi lệnh cấp trên. Năm 1802 khi nhà Nguyễn đánh bại Tây Sơn lên nắm quyền ông cũng chỉ được phong Khâm sai Thống binh cai cơ, nhận nhiệm vụ ra thu phục Bắc Thành rồi trấn thủ ở đó. Sau đó năm 1808 ông làm Trấn Thủ Lạng Sơn rồi vào Nam nhận chức Trấn thủ Định Tường. Năm 1813 ông đã từng nhận nhiệm vụ bảo hộ Cao Miên (Campuchia) trong suốt 3 năm.


Năm 1816 ông được triệu về Huế rồi nhận chức trấn thủ Vĩnh Thanh, ở đây ông đã cho đào kênh đắp đư