Chùa Tây An - Núi Sam

Chùa Tây An hay còn gọi là Tây An Tự nằm ở ngã ba chân núi Sam - Châu Đốc - An Giang là ngôi chùa có kiến trúc kết hợp phong cách nghệ thuật Ấn Độ và kiến trúc cổ dân tộc đầu tiên ở Việt Nam, đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích "kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia".


Năm 1841 người Chân Lạp nhờ người Xiêm giúp đỡ để chống lại triều đình nhà Nguyễn tạo thành một thế lực rất mạnh. Tướng chỉ huy của triều Nguyễn là Trương Minh Giảng không cự nổi nên hổ thẹn buồn đau sinh bệnh rồi mất. Giặc theo đường thủy kéo sang. Vua sai Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Tiến Lâm giữ mặt Tiền Giang; Phạm Ngọc Điển và Nguyễn Văn Nhân giữ mặt Hậu Giang; Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Tiến Nhân giữ mặt Vĩnh Tế. Giặc bị đẩy lui ra khỏi bờ cõi và xin hòa. Doãn Uẩn vui mừng vì lập được đại công đánh đuổi được quân Xiêm La, bình định được Chân Lạp, nên đã cho xây dựng một ngôi chùa bằng tường gạch, nền cuốn đá xanh, mái lợp ngói; và đặt tên là Tây An tự với hàm ý trấn yên bờ cõi phía Tây.


Toạ lạc ở triền núi Sam (cách Miếu Bà chừng 300 mét) trên một nền cao cách mặt đất bởi 10 bậc thang cẩn đá xanh, Tây An Tự sừng sững ở ngã ba, ngay vị trí đầu đường từ Châu Đốc vào nên người trước gọi đường ấy là “lộ Tây An”. Nhìn từ ngoài vào chùa có những vòm mái tròn cao, các lầu, gác và đỉnh nhọn như tháp xưa ở Ấn Độ nhưng ở cổng tam quan được đặt tượng Quan Âm Thị Kính bồng con của Thị Mầu. Bên trong cổng là một sân chùa nhỏ có một cột phướn cao 16 m.


Chùa Tây An do quan triều đình xây cất, là một loại chùa công nên đã được sự quan tâm chăm sóc của Nhà nước. Do đó, ngay từ buổi đầu, những người xuất gia tu ở đây đều được mời về từ “chùa trung tâm” Giác Lâm. Các sư này tu theo phái Lâm Tế (1 trong 5 phái chánh: Lâm Tế, Tào Đọng, Quy Ngưỡng, Vân Môn và Pháp Nhãn, du nhập từ Trung Hoa), nên cũng có người gọi là chùa Tây An là chùa Lâm Tế.


Ban đầu (1847), chùa Tây An được kiến trúc theo mô hình chùa Giác Lâm: dạng hình chữ Tam, sườn gỗ, mái chồng 2 lớp, lợp ngói đại ống. Sau (1960) trùng kiến thêm phía trước một toà tháp hình tròn, to cao và rộng, “chóp củ hành”, nhọn vút lên cao (đứng ở cổng nhìn lên, thấy cao hơn đỉnh núi).


Sân chùa rộng, ngay ở cửa vào tại thềm có đúc 2 con voi to, một con 2 ngà và một con 6 ngà.


Các nhà kiến trúc đã đặc biệt nhấn mạnh “vòm củ hành” của nghệ thuật Ấn Hồi. Tuy bị pha tạp, nhưng lại nói lên được ý nghĩa khác, quý hơn, thể hiện đậm nét lòng sùng ngưỡng của người dân địa phương.

Bên trái là Tây lang với khu nhà hương khói rộng rãi. Bên phải là khu mộ tháp.