Di tích nhà tù Phú Quốc

07.03.2019

Trại giam Tù binh Chiến tranh Phú Quốc, hay Trại giam Tù binh Cộng sản Phú Quốc là một trại giam nằm tại thị trấn An Thới ở cực nam đảo Phú Quốc. Trong Chiến tranh Đông Dương, trại giam này có tên là Nhà lao Cây Dừa. Đây là trại giam tù binh trung tâm toàn Việt Nam Cộng hòa, từng giam giữ hơn 32.000 tù binh (40.000 tù nhân nếu tính cả tù chính trị nhiều thời kỳ).

 

Nhà tù Phú Quốc nằm ngay bên đường đi cảng An Thới, gần sát bãi Kem. Đây là một di tích lịch sử đặc biệt trên đảo. 

 

Nhà tù này là minh chứng chân thực về sự khốc liệt của chiến tranh, chỉ tham quan và nhìn thôi cũng đã đủ làm du khách rùng mình về sự dã man và tàn nhẫn mà những tù nhân ở đây từng gánh chịu.

 

Để tìm hiểu về di tích du khách có thể vào khu nhà trưng bày để xem các tư liệu lịch sử.

 

Từ năm 1941 - 1944, thực dân Pháp đã đưa tù nhân ra đảo Phú Quốc thiết lập 3 trại tù, giam cầm khoảng 1.000 người và sau đó giải thể. Tháng 6.1953, Pháp tái lập Trại giam tù binh Căng Cây Dừa (còn gọi là Trại giam Cây Dừa) lớn nhất Đông Dương lúc bấy giờ, diện tích khoảng 40 ha, giam giữ các chiến sĩ, cán bộ kháng chiến cả ba miền Bắc, Trung, Nam và lúc đông nhất lên đến 14.000 tù binh. Và khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, việc trao trả tù binh được tiến hành, trại giam bị xóa bỏ.

 

 

Cuối năm 1955, trên nền Trại giam Cây Dừa - Phú Quốc, Mỹ - Ngụy tiếp tục lập một trại tù với tên gọi Trại Huấn chính Cây Dừa (còn gọi là Nhà lao Cây Dừa) giam giữ gần 1.000 tù binh, tù chính trị và đến tháng 3.1957 thì chấm dứt hoạt động.

 

 

Năm 1967, chúng xây dựng lại, lấy tên là Trại giam Tù binh Cộng sản Việt Nam/Phú Quốc để giam cầm, đọa đày các chiến sĩ cách mạng với quy mô, số lượng lớn nhất Việt Nam.

 

Từ nhà trưng bày tư liệu, dọc theo con đường phía ngoài bạn sẽ đến khu trại giam nằm bên trong những hàng dây thép gai dày đặc. 

 

Trại giam Tù binh Chiến tranh Phú Quốc có tất cả là 12 khu (năm 1972) được đánh số từ khu 1 đến khu 12. Riêng khu 13, 14 được xây dựng thêm vào cuối năm 1972. Mỗi khu trại giam có khả năng chứa khoảng 3000 tù nhân. Năm 1972, có khoảng 36 000 tù nhân. Mỗi khu trại giam lại được chia làm nhiều phân khu. Thường thì có 4 phân khu, trong 1 khu. Một phân khu chứa được 950 tù binh. Riêng phân khu B2 dành riêng để giam giữ các sĩ quan. Tù binh có cấp bậc lớn nhất là Thượng tá. Trại giam Tù binh Chiến tranh Phú Quốc do 3 tiểu đoàn quân cảnh (7, 8, 12) canh giữ.

 

Với những hàng kẽm gai dày đặc, nhiều tầng, nhiều lớp, tù nhân rất khó để vượt ngục trực diện qua những lưới thép này trừ những chiến sĩ đặc công và tỷ lệ thành công cũng rất thấp gần như là bằng không. 

 

Các phòng giam đều có cấu trúc vì kèo sắt, nóc tôn, vách tôn, mỗi phòng bề ngang 5 mét, dài 20 mét, hai đầu chừa hai lối ra vào, bề ngang khoảng 8 tấc và mỗi bên vách tôn có 4 cửa sổ, dưới vách tôn có khoảng trống chừng 3 tấc, có rào dây kẽm gai.

 

Để canh gác khu trại giam, chung quanh mỗi khu giam có một pháo đài canh gác có đặt súng đại liên. Tại cổng chính của khu giam có 2 vọng gác; một vọng tổng kiểm soát đốc canh, 2 giờ thay phiên gác một lần, liên tục 24/24 giờ. Hai xe tuần tra liên tục quanh khu giam. Ban đêm còn có các toán vào vòng rào giới hạn để kiểm soát lưu động tại các phân khu và 10 vọng gác di động. Đứng đầu ban chỉ huy trại giam là một trung tá hoặc đại úy (có lúc là một chuẩn tướng) Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đằng sau là một cố vấn người Mỹ. Lực lượng canh giữ trực tiếp trại giam gồm có 4 tiểu đoàn quân cảnh, một liên đội địa phương quân, một đại đội công binh, một đơn vị hải thuyền và một đội quân khuyển.

 

Trong Chiến tranh Việt Nam, tù binh chiến tranh Trại giam tù binh Phú Quốc đã phải chịu những hình phạt, tra tấn như đóng đinh vào tay, chân, đầu; đốt dây kẽm cháy đỏ đâm vào da thịt, đục răng, trùm bao bố chế nước sôi hoặc đổ lửa than, ném vào chảo nước sôi, đốt bộ hạ, thiêu sống, chôn sống... Trong thời gian tồn tại không đầy 6 năm (từ tháng 6/1967 đến 3/1973) trại giam tù binh Phú Quốc, có hơn 4000 người chết, hàng chục ngàn người bị thương tật tàn phế. Tuy nhiên, vẫn có một số ít tù binh trốn được khỏi Nhà tù.

 

Một trong những hình thức tra tấn tàn bạo mà hiện nay vẫn còn mô hình ngay phía cổng vào đó là "chuồng cọp kẽm gai".  Loại chuồng cọp này làm toàn bằng dây kẽm gai, được đan chằng chịt xung quanh và trên nóc. Chuồng cọp này đặt ở ngoài trời trong phân khu. Mỗi phân khu có đến hai, ba chuồng cọp - loại nhốt 1 người và loại nhốt 3-5 người. Kích thước chuồng cọp rất đa dạng, có loại cho tù nhân nằm trên đất cát, có loại buộc tù nhân phải nằm trên dây kẽm gai, có loại chỉ nằm hoặc đứng; có loại chỉ ngồi lom khom; loại phải đứng lom khom, không đứng thẳng được mà ngồi xuống thì sẽ phải ngồi trên dây kẽm gai. Tù nhân phải cởi áo, quần dài, chỉ được mặc quần cụt để phơi nắng, phơi sương, dầm mưa suốt ngày đêm.

 

Một loại chuồng cọp man rợ khác do Mỹ - Ngụy sáng chế là chuồng cọp Catso còn gọi là phòng kỷ luật. Chuồng cọp Catso được làm bằng sắt tấm bịt kín bốn mặt, hình dáng tương tự như chiếc container, cũng có loại lớn, loại nhỏ. Chúng thiết kế loại chuồng cọp này để đàn áp tù binh. Người tù bị giam vào đây, cửa khoá chặt, không có ánh sáng, thiếu không khí để thở, ăn uống khổ cực, tiêu, tiểu tại chỗ, ban đêm thì lạnh, ban ngày thì nóng như thiêu, như đốt. Bị giam lâu ngày trong chuồng cọp Catso, khi được thả ra ngoài, tù binh không còn nhìn thấy đường vì mắt bị mờ, sức khoẻ và tinh thần bị giảm sút nghiêm trọng.

1/5

Trong những phòng giam của khu di tích hiện nay, bạn có thể thấy các mô hình mô phỏng lại những hình thức tra tấn dã man của Mỹ - Ngụy. Để có thể biết rõ tường tận về những tàn bạo đó bạn cần phải đi cùng các thuyết minh viên của khu di tích. 

 

Bạn đừng quên thăm đường hầm vượt ngục nổi tiếng do cụ Hồ Quốc Phú tổ chức thành công cho 21 chiến sĩ ở phòng giam số 13 phân khu B2 vượt ngục lúc 3h sáng ngày 21/01/1969.

 

Đường hầm này được đào trong 4 tháng dài 120 mét với dụng cụ là thìa (muỗng), cọng kẽm gai, cọng sắt. Được đào cách mặt đất 1,5 mét với đường kính 0,6 mét. Mỗi tối được phân công 1 tổ 3 người luôn phiên đào. Người thứ nhất đào, người thứ hai cho đất vào túi, người thứ ba dùng những chiếc bao bố xé nhỏ kết nối làm dây kéo đất ra ngoài. Cứ 6m - 8m thì lại đào một lỗ thông hơi nhỏ. Đất thừa được giấu trong ống quần, lần lượt đổ xuống nhà cầu, hố rác. 

 

Đường hầm được đào về hướng Bắc và sau nhiều nỗ lực để không bị phát hiện trong quá trình đào, đổ đất ra ngoài, đường hầm đã hình thành và giải thoát thành công cho 21 chiến sĩ mà ngày nay vẫn có những người còn là nhân chứng sống.

 

Nhà tù Phú Quốc, di tích quốc gia đặc biệt mà bạn nên ghé qua để tìm hiểu về lịch sử. Khi đến đây bạn đừng quên nhờ sự trợ giúp của các cô thuyết minh để chuyến tham quan có những hiểu biết cô đọng và sâu sắc. 

Share on Facebook
Share on Twitter
Please reload

Follow us
  • Facebook Basic Square
  • Twitter Basic Square
  • Instagram Social Icon
Tin mới
Please reload

Tìm kiếm