Hội Lim - Quan họ trao duyên

27.05.2019

Hội Lim - lễ hội đặc sắc của người Quan họ, cũng là một lễ hội lớn của miền Bắc hàng năm được tổ chức ở khu vực núi Lim, Tiên Du, Bắc Ninh trong 2 ngày 12 và 13 tháng giêng.

 

Vào những ngày này, khu vực xung quanh núi Lim chật cứng các bãi gửi xe. Ngay cả những tuyến bus Hà Nội - (Tiên Du) Bắc Ninh cũng nghẹt thở cho đến khi xe bus dừng tại điểm ở sát cổng hội Lim thì mới rộng chỗ.

 

Không gian âm nhạc của tiếng hát giao duyên ngọt ngào da diết với lời ca mộc mạc, tế nhị nhưng trữ tình này thu hút hàng nghìn người tìm đến.

 

Dân ca quan họ Bắc Ninh - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2009) có nguồn gốc từ bao giờ thì không ai xác định được. Người ta chỉ biết rằng nó đã có một bề dày lịch sử lâu đời. Từ thế kỷ 18, hội Lim đã là một lễ hội lớn phát triển tới quy mô hội hàng tổng (tổng Nội Duệ).

 

Hai ngày hội chính được tổ chức không chỉ ở núi Lim mà còn ở nhiều điểm khác như cửa đình, cửa chùa, dưới thuyền ở các làng, tổ chức hát quan họ ở các gia đình nghệ nhân ở Lũng Giang, Lũng Sơn, Duệ Đông, Bái Uyên, Đình Cả, Lộ Bao (những điểm có hình chiếc ô trong sơ đồ)... Lễ hội được tổ chức cả ban ngày và biểu diễn trên sân khấu lớn cả ban đêm liên tục không dứt. 

 

Là một loại hình văn hóa dân gian, cổ truyền hát quan họ xưa không có khán giả, người trình diễn đồng thời là người thưởng thức, đặc biệt là thưởng thức “cái tình” của bạn hát. Ngày nay, quan họ mới luôn có khán thính giả, người hát trao đổi tình cảm với khán thính giả không riêng gì giữa bạn hát với nhau. Quan họ truyền thống xưa chỉ có ở các làng quan họ, quan họ mới được trình diễn trong cả tỉnh, cả nước và đến với tất cả các châu lục trên thế giới vào bất kỳ thời điểm nào trong năm.

 

Trong không khí ồn ào của dòng người trên đồi Lim, ngoài đình, dưới bến, bạn mới chỉ cảm nhận được sự tưng bừng náo nhiệt. Nhưng khi tiếng hát quan họ cất lên đầy rung động sẽ đưa bạn vào một dòng cảm xúc khác của lễ hội này. 

 

Sân khấu chính hội Lim trên đồi Lim có hai lối vào. Một lối cổng chính từ đường Tiên Du, phía xe bus đi qua và một lối vào phía sau ở góc đường Nguyễn Đăng Đạo.

 

Sân khấu chính đối diện về phía cổng chùa Hồng Ân trên đỉnh đồi Lim. Dọc lối lên chùa hai bên cũng có rất nhiều nhà chòi của các làng quan họ, thành từng điểm hát nhỏ để giao lưu với khán giả. 

 

Âm thanh của sân khấu chính rất mạnh mẽ, rõ nét đến từng rung âm nhỏ của lời hát, giọng ngân. Tất nhiên, cũng còn tùy vị trí đứng của bạn mà độ ồn của tạp âm sẽ khác nhau vì không gian rất rộng, nhất là phía các nhà chòi liền sát nhau, chòi nào cũng có trình diễn. Sân khấu chính sẽ có những phần trình diễn quy mô và đa dạng mà các điểm hát nhỏ khác của hội sẽ không có được. 

 

Mặc dù thế, những địa điểm hát khác của hội Lim như thủy đình (cạnh đình làng Lim) cũng có ưu điểm riêng của nó. Vì không gian hẹp hơn nên âm thanh sẽ truyền cảm, ít tạp âm hơn, cộng hưởng với không gian đình làng bến nước tự nhiên và trữ tình khiến cho các bài hát rất ngọt ngào, đằm thắm. 

 

Quan họ thường phong phú về làn điệu như: la rằng, đường bạn kim loan, cây gạo, giã bạn, hừ la, la hới, tình tang, cái ả, lên núi, xuồng song, cái hồ, gió mát trăng thanh, tứ quý,… Một cuộc hát quan họ cổ truyền hay một canh hát bao giờ cũng có ba chặng. Chặng mở đầu thuộc về giọng lề lối, hát chừng mười bài giọng lề lối sẽ chuyển sang giọng sổng để vào chặng giữa, các bài ở chặng giữa là ở giọng vặt, chặng cuối là giọng giã bạn.

 

Giọng lề lối là giọng hát mở đầu, tốc độ chậm, nhiều luyến láy, nhiều tiếng đệm như các bài "Cây gạo", "Tình tang", "Hừ la".... Giọng sổng là giọng chuyển tiếp từ giọng lề lối sang giọng vặt, khoan thai, mực thước. Giọng vặt là các giọng thuộc phần chính của buổi ca hát. Tính chất nghệ thuật của quan họ thể hiện rõ ở giọng này. Âm nhạc ngắn gọn, bố cục chặt chẽ, tiết tấu linh hoạt, lời ca phong phú, số lượng bài bản nhiều, có thể thấy như các bài "ngồi tựa mạn thuyền", "36 thứ chim", "Tương phùng - tương ngộ".

 

Giọng giã bạn là giọng hát trước lúc chia tay. Số lượng bài bản ở giọng giã bạn không nhiều nhưng chất lượng nghệ thuật của các bài ở giọng này khá cao. Chủ đề chính của giọng này là tiễn biệt. Vì vậy giai điệu thường buồn, nhưng rất mặn nồng đắm say như tình cảm nhớ thương của các liền anh liền chị quan họ. Ví dụ như các bài: "Người ở đừng về", "Chuông vàng gác cửa tam quan", "Kẻ bắc người nam", "Chia rẽ đôi nơi", "Con nhện giăng mùng"…

 

Dù có thể bạn không phải người của làng quan họ, bạn không thể phân biệt giọng nào với giọng nào nhưng những lời ca mượt mà, đằm thắm, những câu hát ý nhị, đậm chất thơ, những giọng ngân nga, ngắt lời, lảy hạt hoặc trong vắt, hoặc nồng ấm luôn làm say đắm lòng người. Những bài hát quan họ trong sáng và da diết đẩy tâm hồn bạn vào một không gian lắng đọng đầy rung động.

 

Thủy đình hội Lim, người trên bến, kẻ dưới thuyền, trao nhau câu hát, tặng nhau lời ca. Ai cũng muốn quay lại một đoạn video trong điện thoại để lưu giữ kỉ niệm, để chia sẻ với người thân.

 

Không chỉ vậy, rất nhiều những khách đi hội, những "nghệ sĩ nghiệp dư" cũng giao lưu với khán giả và các liền anh, liền chị từ trên bến. 

 

Sắc màu của hội Lim là những chiếc áo tứ thân nhiều điều, nhiều tía, mớ ba mớ bảy, yếm xẻ con nhạn, thắt lưng hoa đào, áo the, quần sớ của những liền anh, liền chị.  Đi cùng với đó là sự thanh lịch của ô che, duyên dáng của nón quai thao làm đậm chất tình trong lời ca câu hát.

 

Hội Lim 2019, mưa xuân rải rác nhưng không thể ngăn nổi những bước chân của khách thập phương tìm về núi Lim với hội. 

 

Ngoài các chương trình hát dân ca quan họ, hội Lim còn có rất nhiều các hình thức vui chơi khác ở các đình làng như đánh cờ người, đu tiên, thư pháp, đập niêu, bịt mắt bắt dê.....

 

"Cây đu chao lệch trời. Gió thổi bời tóc rối. Sợi dây đàn lại nối, cho Quan họ trao duyên" là những lời hát trong bài hát "Tìm em trong chiều hội lim" do anh hai Trung Hiếu và chị hai Linh Nga thể hiện ở thủy đình Hội Lim 2019, bạn hãy bật chế độ HD của youtube khi xem để hình ảnh được rõ nét nhé.

 

Chùa Lim (chùa Hồng Ân)

 

Chùa Lim hay còn gọi là chùa Hồng Ân nằm trên đỉnh đồi Lim (còn gọi là núi Hồng Vân) phía trước của sân khấu chính hội, là nơi du khách nào cũng phải ghé thăm khi về với hội Lim.

 

Chùa Hồng Ân và hội Lim có một lịch sử gắn chặt với nhau được kể lại từ nhiều đời.

 

Vào thế kỷ 18 là thời kỳ hội Lim phát triển, đổi mới khá toàn diện và sâu sắc. Trên cơ sở lễ hội truyền thống của các làng trong tổng Nội Duệ được tổ chức vào mùa thu tháng 8, viên Quận công Đỗ Nguyên Thụy đã phát triển và đổi mới hội Lim thành lễ hội hàng tổng bằng việc hiến dâng hàng tổng 40 mẫu ruộng và hàng ngàn quan tiền cổ để xây dựng tập quán chung và tổ chức lễ hội. Trong đó, việc duy trì và phát triển lối hát giao lưu giữa các làng trong vùng vào dịp tế thần trở thành hoạt động văn hóa nghệ thuật hấp dẫn nhất lễ hội.

 

Trung tâm lễ hội là đình làng Đình Cả và đền Cổ Lũng. Tên làng Đình Cả đã khẳng định vai trò của làng này trong lễ hội hàng tổng. Để duy trì lễ hội, Đỗ Nguyên Thụy đã xây dựng những quy định về lệ tục lễ hội và khắc vào bia đá làm căn cứ cho hàng tổng thực hiện. Lễ hội được tổ chức từ rằm đến 21 tháng tám với nhiều nghi lễ rước, tế lễ và các hoạt động nghệ thuật dân gian hết sức phong phú: hát trống quân, hát chèo, ca trù, hát tuồng và hát quan họ....

 

Những quy định về phát triển, đổi mới hội Lim do quận công Đỗ Nguyên Thụy khởi xướng và xây dựng được duy trì trong vòng 40 năm. Sau đó, cũng chính người làng Đình Cả, tướng công Nguyễn Đình Diễn lại tiếp tục phát triển và đổi mới hội Lim. Ông đã cấp ruộng và tiền cho hàng tổng để chuyển hội hàng tổng từ mùa thu tháng tám sang hẳn mùa xuân tháng giêng. Ông cũng bỏ tiền mua nửa quả núi Hồng Vân (tức núi Lim) để xây lăng mộ của mình trên đỉnh núi.

 

Kế đó, bà Mụ Ả, người Nội Duệ Nam, tu ở chùa Hồng Ân (tức chùa Lim) cũng bỏ tiền mua nốt phần còn lại của núi Lim (núi Hồng Vân) làm hương hỏa, mở mang chùa và phát triển hội Lim.

 

Như vậy, vào nửa sau thế kỷ 18, hội Lim đã có sự đổi mới rất căn bản: từ lễ hội mùa thu tháng tám sang mùa xuân, trung tâm lễ hội từ làng Đình Cả - Nội Duệ được chuyển lên núi Lim, và hội làng Lũng Giang trở thành lễ hội lớn, vì thế có tên hội Cả. Hội đình, hội chạ hàng tổng được kết hợp và hòa nhập với hội chùa Hồng Ân, nên được gọi là Hội Hồng Vân Sơn hay dân gian quen gọi là hội Lim.

 

Vào ngày 13 tháng giêng, phần lễ của hội ngoài việc rước sắc từ đình làng Cả sang đình làng Lộ Bao, tế lễ tại các đình làng còn có lễ dâng hương tế lễ ở lăng Nguyễn Đình Diễn và chùa Hồng Ân. 

 

Về với hội Lim, về với dân ca quan họ là những lời ca ẩn chứa cả sức sống mùa xuân, tinh tế và thắm đượm tình người. Hội Lim, đó là một lễ hội lớn mang đậm bản sắc dân gian mà bạn nên trải nghiệm ít nhất một lần trong đời.

Share on Facebook
Share on Twitter
Please reload

Follow us
  • Facebook Basic Square
  • Twitter Basic Square
  • Instagram Social Icon
Tin mới
Please reload

Tìm kiếm
Please reload